|
Người Ghé Thăm

SAIGON
TIMES PTY
ABN 71 088
414 b457
175 William
St,
Bankstown
NSW 2200
PO BOX 409
Bankstown
NSW 2200
Tel: (02)
9793 2557
Fax: (02)
9791 5438
Email:
info@saigontimes.com.au
Chủ Bút -
Editor
Hữu Nguyên
Mob: 0438 699
150
Phụ Tá Chủ
Bút - Assistant Editor
Phạm Thanh
Phương
Mob: 0411 638
770
Cố Vấn Luật
Pháp- Legal Advisor
Luật Sư Lê
Đ́nh Hồ
(LeDinh
Lawyers)
Tel: (02) 9708
6629
Mob: 0413 166
152
Ban Biên
Tập
Phạm Thanh
Phương
Lê Đ́nh Hồ
Hoàng Tuấn
Thùy Dzung,
Hữu Nguyên
Cộng Tác
Trường
Sơn Lê Xuân Nhị
Sầu Đông, Trần
Ngân Tiêu
Mơ Sàig̣n, Vũ
Hồ, Quốc Hải
Con Hưu, Phạm
thái Lai
Doăn B́nh, Bội
Diệp, Lê Phụng
Lẩn Thẩn Hậu
Sinh, Ái Vân
Quảng Cáo -
Advertising
LeBa Ethnic
Media
Tel: (03) 9521
3366
Fax: (03) 9521
3436
Thùy Dzung
Tel: (02) 9785
8431
Mob: 0415 260
060
ĐẠI DIỆN
CÁC TIỂU BANG:
VICTORIA
Trần Đ́nh Song
Tel: (03) 9327
7571
Fax: (02) 9827
7571
Mob: 0423 081
289
SOUTH
AUSTRALIA
Hồ văn Tuấn
Tel: (08) 8345
2007
|
Điểm Sách: CIA and the Generals & CIA and the House of Ngo
-Nguyễn Kỳ Phong-
Lần đầu tiên trong lịch sử của Trung Ương T́nh Báo Hoa Kỳ (CIA), ban biên tập
của CIA cho giải mật hai tập tài liệu quan trọng về mối liên hệ giữa CIA và Việt
Nam. Trong nhiều năm qua, CIA - theo luật bắt buộc- đă giải mật nhiều tài liệu
quan trọng, thí dụ như hơn 1.000 trang phân tích và ước lượng về chiến tranh
Việt Nam (Estimative Products on Vietnam, 1948-1975, National Intelligence
Council, 2005). V́ vậy, “lần đầu tiên” trong nghĩa này là hai quyển sách trên
thuộc loại sử kể (narrative history), có đầu đuôi, chú thích - và quan trọng hơn
hết - tác giả là người thật, đọc nhiều tài liệu và viết lại có ngọn ngành cho
đọc giả. Đa số những tài liệu giải mật của CIA trước đây thuộc loại nặc danh v́
lư do nghề nghiệp, hay là những tường tŕnh do nhân viên báo cáo về để “kính
tường.”
Người điểm sách không biết hai quyển sách trên thật sự được cho in lúc nào (nghĩa
là được Center for the Study of Intelligence giải mật cho ra công chúng trong
dạng một quyển sách; Center for the Study of Intelligence là nhà in của CIA).
Theo lời giới thiệu trong sách, quyển CIA and the Generals (CIA & Generals) được
hoàn tất tháng 10-1998; và CIA and the House of Ngo (CIA & Ngo) viết xong tháng
6-2000. Hai quyển này được đưa lên web site của Center for the Study of
Intelligence vào đầu tháng 3-2009, với dấu mộc ghi “APPROVED FOR RELEASE DATE
19-Feb-2009.” (Được Phép Đưa Ra Công Cộng Ngày 19 tháng 2-2009).
CIA and the House of Ngo: Covert Action in South Vietnam, 1954-1963 (CIA và
Những Điệp Vụ Mật ở Miền Nam, 1954-1963) nói về những hoạt động bên trong để
giúp đỡ chánh phủ Ngô Đ́nh Diệm, từ ngày ông Diệm về làm thủ tướng cho đến ngày
tổng thống Diệm bị hạ sát trong cuộc cách mạng 1 tháng 11-1963. Qua tài liệu này,
lần đầu tiên chúng ta biết được, từ năm 1950 cho đến năm 1956, CIA có hai Sở
t́nh báo ở Sài G̣n: một Sở CIA Saigon Station nằm dưới sự điều khiển thông
thường từ bản doanh CIA ở Langley, Virginia; Sở kia, có tên là Saigon Military
Mission, làm việc trực tiếp, và chỉ trả lời cho Giám Đốc Trung Ương T́nh Báo.
Saigon Military Mission, theo Tài Liệu Ngũ Giác Đài (The Pentagon Papers) được
giải mật trước đây, do đại tá Edward G. Lansdale chỉ huy. Lansdale đến Sài G̣n
tháng 6-1954 với hai nhiệm vụ: huấn luyện những toán t́nh báo Việt Nam để gài
lại ở miền Bắc trước ngày “di cư và tập kết” hết hạn; và, dùng mọi phương tiện
ngầm (covert action) để giúp tân thủ tướng Ngô Đ́nh Diệm.
Theo tác giả Thomas L. Aherns, chính Giám Đốc CIA Allen Dulles chỉ định đại tá
Lansdale cho điệp vụ ở Sài G̣n - và cũng ra lệnh Lansdale làm việc trực tiếp cho
ông. Tác giả Ahern viết, CIA có mặt từ năm 1950 để giúp đỡ quân đội Pháp xâm
nhập và thu thập tin tức t́nh báo. Nhưng từ cuối năm 1953, khi thấy t́nh h́nh
quân sự nguy ngập của Pháp, Hoa Thịnh Đốn thay đổi nhiệm vụ của CIA Saigon
Station: Liên lạc và thu thập t́nh báo những thành phần có tinh thần quốc gia
yêu nước để lập một chánh thể chống cộng trong trường hợp Hoa Kỳ thay thế Pháp.
Cùng lúc Hoa Thịnh Đốn gởi thêm một toán CIA để lo về quân sự là Saigon Military
Mission (tác giả Ahern chú thêm, trong các công điện của CIA, Saigon Military
Mission đôi khi được ghi là Saign Military Station).
CIA and the House of Ngo tiết lộ một số chi tiết ly kỳ như, CIA liên lạc và làm
thân với ông Ngô Đ́nh Nhu từ năm 1951, rất lâu trước khi Hoa Kỳ liên lạc với ông
Diệm. Đầu năm 1954, khi có tin Hoa Kỳ chuẩn bị đề nghị quốc trưởng Bảo Đại và
chánh phủ Pháp giải nhiệm hoàng thân Bửu Lộc và thay bằng ông Diệm, th́ ông Nhu
là người đầu tiên CIA gặp để bàn về liên hệ của Hoa Kỳ đối với thủ tướng tương
lai Ngô Đ́nh Diệm.
Tháng 4-1954, một nữ nhân viên Mỹ làm việc ở CIA Saigon Station, thông thạo
tiếng Pháp, quen biết và liên lạc thân thiện với Bà Ngô Đ́nh Nhu. Từ nữ nhân
viên Virginia Spence này, Sở CIA Saigon bắt được nhiều liên lạc với hầu hết
những người thân trong gia đ́nh, hoặc thân cận với Nhà Ngô. Tháng 4-1954, CIA ở
Hoa Thịnh Đốn gởi Paul Harwood sang làm cố vấn riêng cho ông Nhu. Tuy là nhân
viên CIA, nhưng Harwood đóng vai một nhân viên Bộ Ngoại Giao, làm việc từ Ṭa
Đại Sứ. Trong hai năm, Hardwood cố vấn là làm việc với ông Nhu để xâm nhập và
ảnh hưởng đường lối ngoại giao quân sự của nền đệ nhất VNCH với tổng thống Diệm.
Paul Hardwood thân thiện với gia đ́nh ông bà Nhu đến độ ông là người đỡ đầu cho
Ngô Đ́nh Lệ Thủy, ái nữ của ông bà Nhu. Từ tài liệu này chúng ta cũng biết thêm,
ông bà Nhu được đưa qua thăm viếng Mỹ trước tổng thống Diệm. Để lấy t́nh cảm và
ảnh hưởng với ông Nhu, đầu tháng 3-1957 ông bà Nhu được CIA mời qua thăm Hoa
Thịnh Đốn. Tuy không có một chức vụ ǵ chánh thức với chánh phủ nhưng ông Nhu
được diện kiến tổng thống Dwight Eisenhower, hai Tổng Trưởng Ngoại Giao và Quốc
Pḥng, và Giám Đốc CIA Allen Dullles. Tài liệu cho biết, với tài ăn nói và sắc
diện, bà Nhu gây được nhiều chú ư với các thẩm quyền Mỹ. ? “Bà Nhu là một ngôi
sao trong dạ tiệc” do CIA khoản đăi. Hai tháng sau chuyến thăm viếng âm thầm của
ông bà Nhu, đầu tháng 5-1957, tổng thống Diệm lên đường công du theo lời mời của
chánh phủ Hoa Kỳ.
Một vài tiết lộ khác trong sách của Ahern: CIA “bắt liên lạc” được với những
nhân vật quan trọng như Trần Chánh Thành, Trần Trung Dung, Trần Quốc Bửu. Và ít
hay nhiều, CIA có thể nh́n vào nội t́nh của Nhà Ngô qua những tin tức do những
nhân vật trên cung cấp. Trong cuộc tranh chấp - rồi sau đó là giao chiến - giữa
chánh phủ Diệm và quân phiến loạn B́nh Xuyên, CIA biết được hầu hết kế hoạch và
khả năng của B́nh Xuyên, nhờ một cận thần của Bảy Viễn đang làm việc cho CIA.
Phong Trào Cách Mạng Quốc Gia, một đảng chánh trị thành lập để hổ trợ chánh phủ
Diệm, nhận tài chánh và cố vấn từ CIA. Nhưng đến đầu năm 1960 th́ CIA cắt ngân
khoản v́ cơ cấu nhân sự không c̣n hữu hiệu trong công tác tuyên truyền. CIA đă
than phiền nhiều lần về những hoạt động của Đảng Cần Lao và hành vi của ông Ngô
Đ́nh Cẩn. Nhưng mỗi lần CIA than phiền với ông Nhu về những hoạt động bí mật -
đôi khi trái phép - của ông Cẩn, th́ ông Nhu “đưa hai tay lên trời” với một thái
độ buông xuôi v́ ông không thể nào làm ǵ được. Ở một tài liệu khác cho biết,
khoảng giữa năm 1956, CIA nhận được nguồn tin cho biết ông Cẩn đang bàn kế hoạch
để loại trừ Bộ Trưởng Thông Tin Trần Chánh Thành và Cố Vấn Ngô Đ́nh Nhu ra khỏi
ṿng ảnh hưởng ở Dinh Tổng Thống. Qua nhiều trang, chúng ta đọc được sự bất lực
của chánh phủ Sài G̣n đối với ông Ngô Đ́nh Cẩn ở miền Trung.
Với hai Sở CIA ở Sài G̣n hoạt động độc lập nhau, báo cáo gởi về cho CIA ở Hoa
Thịnh Đốn đôi khi trái ngược: Cố vấn Paul Hardwood th́ báo cáo tốt, nhân nhượng
cho ông Nhu và có ư chỉ trích ông Diệm; Edward Lansdale th́ ngược lại: bảo vệ
ông Diệm và nói xấu ông bà Nhu. Cuối năm 1956, sau khi Lansdale bị triệu hồi về
Mỹ, Al Ulmer, Trưởng Vụ Viễn Đông CIA, ra lệnh giải tán những ǵ c̣n lại của
Saigon Military Mission - và thái độ của Hoa Kỳ cũng bắt đầu thay đổi với chánh
phủ Ngô Đ́nh Diệm. Đầu năm 1958 Hoa Kỳ cho phép CIA Saigon bắt liên lạc với các
đảng chính trị đối lập. Tài liệu nói nhân viên của CIA mua chuộc và thành lập
một lực lượng đối lập “ngay sau lưng ông Nhu,” để trong trường hợp phải thay đổi
cấp lănh đạo mới. Cuộc đảo chánh 11 tháng 11-1960 là một “hăm doạ” của Hoa Kỳ
đối với tổng thống Diệm: Nhân viên CIA có mặt tại bộ chỉ huy của đại tá Nguyễn
Chánh Thi và kế bên ông Hoàng Cơ Thụy để giới hạn bước tiến của quân đảo chánh -
điệp viên Russ Miller khuyên đại tá Thi nên thương lượng với ông Diệm, trong khi
biết rơ quân ủng hộ chánh phủ của đại tá Trần Thiện Khiêm đang trên đường từ
Vùng IV về thủ đô tiếp cứu. Khi thấy thái độ trở mặt của CIA, mạng lưới t́nh báo
của ông Nhu cũng không hoàn toàn thụ động: Phó Sở CIA Saigon, Douglas Blaufarb,
ngỡ ngàng khi ông khám phá ra người tài xế Việt Nam của ông không bị điếc như
lúc được Trần Kim Tuyến giới thiệu vào làm việc: người tài xế không điếc mà c̣n
thông thạo hai ngoại ngữ Anh và Pháp!
Tài liệu thú nhận vào năm sau cùng của Nhà Ngô, Hoa Kỳ có một phần lớn trách
nhiệm trong kế hoạch hạ bệ tổng thống Diệm. Nhưng chính gia đ́nh ông Diệm cũng
tự hủy hoại, v́ sự chia rẽ từ anh em trong nhà. Từ mùa xuân năm 1963 ông Nhu yêu
cầu CIA đừng nói lại những ǵ ông và CIA trao đổi. Và qua nhiều lần nói chuyện
với CIA, ông Nhu tuyên bố ông muốn thay tổng thống Diệm! Trong khi đó bà Nhu th́
thường làm hùng làm hổ với tổng thống Diệm: trong cuộc bầu cử Hạ Viện năm 1963,
bà Nhu muốn ủng hộ 30 ứng cử viên mà bà ta ưng ư. Ông Diệm không đồng ư, nhưng
bà Nhu “cằn nhằn, to tiếng” cho đến khi tổng thống Diệm nhượng bộ. Bà Nhu cũng
thắng thêm một lần nữa, khi đ̣i làm người chủ toạ và đọc diễn văn ngày Lễ Hai Bà
Trưng - thay v́ phó tổng thống Nguyễn Ngọc Thơ như ông Diệm đă chỉ định. Riêng
về ông Ngô Đ́nh Cẩn: ông Cẩn từ chối không ủng hộ hay giúp ông Nhu về Chương
Tŕnh Ấp Chiến Lược ở Miền Trung.
Ngày Lễ Quốc Khánh Hoa Kỳ, 4 tháng 7-1963, lần đầu tiên tổng thống Diệm cho phép
các tướng lănh VNCH tham dự tiệc ăn mừng do ṭa đại sứ tổ chức. Sau tiệc rượu ở
khuôn viên ṭa đại sứ Hoa Kỳ, một vài tướng lănh VNCH và nhân viên CIA kéo nhau
ra quán để uống nữa. ? Tại quán rượu, tướng Trần Văn Đôn nói với nhân viên CIA
là các tướng lănh muốn đảo chánh tổng thống Diệm. Thảm kịch của Nhà Ngô bắt đầu
từ đó.
CIA and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam
(CIA và Các Tướng Lănh: Những Hỗ Trợ Ngầm Cho Chính Phủ Quân Sự Việt Nam Cộng
Ḥa), cũng là một tài liệu tương đối “tối mật” so với những tài liệu được CIA
công bố trước đây. Những sự kiện biên niên trong quyển CIA & Generals
(1963-1975) tiếp theo quyển CIA & Ngo (1954-1963), nhưng lại được cho giải mật
trước CIA & Ngo. Có lẽ ban kiểm duyệt CIA thận trọng hơn về những chi tiết nằm
trong CIA & Ngo. Tài liệu trong CIA & Generals bắt đầu sau cuộc đảo chánh 1
tháng 11-1963. Những ǵ đến từ tài liệu cho thấy ngay sau đảo chánh, như một tập
thể, Hội Đồng Quân Nhân Cách Mạng không được ḥa thuận; và, như những liên hệ cá
nhân, các tướng lănh đă nghi kỵ, ngờ vực lẫn nhau trước khi đảo chánh. Trước khi
đảo chánh tướng Nguyễn Khánh đă nói xấu về hai tướng Dương Văn Minh và Trần
Thiện Khiêm với tổng thống Diệm và một số nhân viên CIA. Qua nhiều chi tiết,
chúng ta thấy có một số tướng lănh làm việc chung v́ phải tựa vào nhau để mưu
cầu quyền lợi riêng, chứ không thật sự có chung một lư tưởng. Trước ngày tướng
Khánh “chỉnh lư” tướng Minh và bốn tướng Lê Văn Kim, Tôn Thất Đính, Mai Hữu Xuân,
và Trần Văn Đôn, tướng Khánh thường xuyên rỉ tai với CIA về tin đồn những tướng
lănh nói trên sẽ theo Pháp để biến Việt Nam thành trung lập. Tháng 2-1964 tướng
Nguyễn Văn Thiệu đă đưa nhiều sĩ quan thuộc Đảng Đại Việt nằm vào những chức vụ
quan trọng trong quân đội. Khi được hỏi để làm ǵ, tướng Thiệu trả lời để triệt
hạ cộng sản và những thành phần thân cộng. Nhưng CIA có nguồn tin cho biết ông
Thiệu sẽ dùng sĩ quan Đại Việt để đảo chánh ông Khánh. Và chuyện xảy ra đúng như
vậy. Tướng Khánh rất ngây thơ khi “hù” tướng Thiệu là Mỹ sẽ “chơi” ông. Nhưng,
như chúng ta đă thấy, Mỹ chơi ông Khánh trước ông Thiệu!
Một chi tiết khá lư thú về tướng Khánh: 25 tháng 2-1965, khi đại sứ Maxwell
Taylor và các tướng trẻ hạ bệ và yêu cầu tướng Khánh rời Việt nam. Lúc ra đi vội
vă tướng Khánh để quên lại một cặp táp nhiều tài liệu quan trọng. Nhớ lại, tướng
Khánh yêu cầu CIA bằng mọi cách phải t́m lại cặp táp. CIA chuộc lại được và gởi
qua Mỹ, giao lại cho tướng Khánh. Nhưng, trước khi cặp táp rời Việt Nam, đại sứ
Maxwell Taylor yêu cầu cho ông một bản sao của tất cả tài liệu nói trên! Bản sao
những tài liệu chắc chắn c̣n lưu trữ đâu đó trong văn khố chánh phủ Hoa Kỳ.
Những chi tiết được giải mật trong CIA & Generals: Trong các tướng lănh VNCH,
CIA kính trọng kiến thức của tướng Lê Văn Kim nhất. Trong một buổi thuyết tŕnh
về các kế hoạch “kín” đang thực hiện trên đất Bắc, trong khi mặt tướng Dương Văn
Minh “ngớ” ra với những chi tiết t́nh báo quân sự, tướng Kim lấy được sự kính
trọng của t́nh báo Hoa Kỳ với những câu hỏi rất chuyên nghiệp. Tướng Nguyễn Đức
Thắng được người Mỹ kính nể. Trong một báo cáo, Giám Đốc CIA Richard Helms đề
nghị cho tướng Thắng cùng một lúc giữ hai bộ là Bộ Quốc Pḥng và Xây Dựng Nông
Thôn, với tất cả cơ cấu và cố vấn Hoa Kỳ “nằm dưới quyền thống thuộc của tướng
Thắng.” Về tướng Nguyễn Ngọc Loan, mặc dù người Mỹ không thích tướng Loan v́ sự
thẳng thắng của ông, nhưng họ nhận định tướng Nguyễn Ngọc Loan là một người thật
thà, can đảm, biết được ẩn ư của người Mỹ. Tướng Loan không sợ khi nói thật ư
nghĩ của ông với t́nh báo Mỹ. Đầu năm 1967, khi biết được Hoa Kỳ đang đi sau
lưng chánh phủ VNCH, liên lạc với Mặt Trận Giải Phóng Miền Nam, ông Loan đă nói
thẳng với CIA là người Mỹ từ đây sẽ có những hành vi lén lút sau lưng người quốc
gia? và sau cùng người sẽ Mỹ bỏ đi, chỉ c̣n VNCH một ḿnh đơn thân chống lại Bắc
Việt. Một lời phát biểu mà t́nh báo Hoa Kỳ cho là “tiên tri”.
T́nh báo Mỹ cũng biết được tánh t́nh và quá khứ của một số tướng lănh VNCH qua
những lần đối thoại với tướng Trần Thiện Khiêm khi tướng Khiêm bị “lưu đày” qua
Mỹ với cấp bậc đại sứ. Trong một bửa ăn ngày 19 tháng 4-1965 ở nhà hàng Sans
Souci (một nhà hàng sang trọng bậc nhất ở Hoa Thịnh Đốn) tướng Khiêm thổ lộ ư
nghĩ của ông về tướng Khánh và nhiều nhân vật khác. Qua nhiều chi tiết trong CIA
& Genreals, đọc giả có thể suy luận, tướng Khiêm có một liên hệ lâu và thân mật
với Trung Ương T́nh Báo Hoa Kỳ.
Cuối năm 1966 Hoa Kỳ có ư định “bắt liên lạc” với một vài nhân sự của Mặt Trận
Giải Phóng Miền Nam (MTGPMN). Lư luận của CIA là họ muốn xâm nhập vào nội bộ để
gây chia rẽ giữa cấp lănh đạo MTGPMN và Hà Nội. Muốn lấy ḷng tin của MTGPMN,
CIA xin chánh phủ VNCH phóng thích vài nhân sự quan trọng của MTGPMN đang bị
Cảnh Sát Quốc Gia VNCH giam giữ, trong đó có vợ của Trần Bạch Đằng (bà Mai Thị
Vàng) và vợ của Trần Bửu Kiếm (bà Phạm Thị Yến), và một số cán bộ giao liên. Ban
đầu VNCH phản đối, nhưng sau cùng v́ áp lực cũng phải cộng tác với Hoa Kỳ trong
kế hoạch liên lạc với MTGPNM. Từ tháng 2-1967 cho đến 1968, VNCH thả bà Vàng và
bà Yến, cộng thêm 10 cán bộ giao liên phía bên kia. Đổi lại, phía MTGPMN chỉ thả
ba tù binh Hoa Kỳ. Nhưng từ đó VNCH - nhất là tướng Nguyễn Ngọc Loan - thấy Hoa
Kỳ sẵn sàng “xé lẻ” nếu t́nh thế phù hợp với đường lối ngoại giao của họ. Nhưng
phải thành thật nhận xét, qua những lời úp mở trong sách - v́ bị kiểm duyệt khá
nhiều - CIA rất có thể đă xâm nhập hay bắt liên lạc được với Trần Bửu Kiếm hay
một nhân vật nào đó trong nội bộ đầu năo của MTGPMN. Qua các tài liệu giải mật
sau này, chúng ta thấy CIA có một hồ sơ rất chi tiết về nhân sự và cơ cấu của
MTGPMN. Thêm vào đó, CIA cũng có luôn những báo cáo của Chánh Phủ Lâm Thời Miền
Nam Việt Nam (là hậu thân của MTGPMN từ tháng 6-1969) gởi về cho Trung Uơng Cục
Miền Nam, cập nhật những diễn tiến ở Hoà Đàm Paris 1968-1973.
CIA xâm nhập sâu vào cơ cấu hành chánh và nhân sự của VNCH trong khoảng
1967-1975, nhất là sau cuộc bầu cử tổng thống đầu tiên của nền Đệ Nhị Cộng Ḥa
(1967). V́ kết quả bầu cử phải được Hạ Viện VNCH chứng nhận hợp pháp - nhất là
một cuộc bầu cử mà hai ứng viên cùng chung liên danh (Nguyễn Văn Thiệu - Nguyễn
Cao Kỳ), đă bất đồng trước khi ngồi lại với nhau, và hầu hết liên danh thất cử
nào cũng phản đối kết quả - Hoa Kỳ chỉ thị cho CIA phải t́m mọi cách bảo đảm Hạ
Viện sẽ chứng nhận kết qủa bầu cử. Hạ viện bỏ phiếu thuận 58 trên 43, xác nhận
liên danh Thiệu-Kỳ đắc cử.
Tài liệu trong CIA & Generals nói t́nh báo Mỹ đă khuynh đảo một số dân biểu
trong hai cuộc bầu cử tổng thống 1967 và 1971 (và bầu cử Quốc hội của năm 1970).
CIA mua chuộc được 10 dân biểu, “nhưng muốn có thêm 10 tiếng nói” ủng hộ nữa, để
chắc ăn về những dự luật đang nghị luận! Tài liệu cho biết CIA đă tốn bao nhiêu
tiền để thành lập hay giúp đỡ các đảng phái chính trị với hy vọng các lực lượng
này sẽ ủng hộ và xây dựng một thế lực phía sau tổng thống Thiệu. Đảng Mặt Trận
Cứu Nguy Dân Tộc, (của thượng nghị sĩ Trần Văn Đôn) được CIA tài trợ với hy vọng
trên. Nhưng khi biết được người đứng ra tổ chức là Đặng Đức Khôi - một thân tín
của ông Kỳ - ông Thiệu từ chối ủng hộ. Để có một tổ chức riêng, ông Thiệu cho ra
đời Lực Lượng Dân Chủ. Sau Đảng Dân Chủ, CIA tài trợ một lực lượng chính trị
khác, có tên là Đảng Liên Minh Cách Mạng Xă Hội, với hy vọng gom lại tất cả lực
lượng chính trị thành một mặt trận chung, dưới sự lănh đạo chung của tổng thống
Thiệu và phó tổng thống Kỳ. Nhưng vấn đề là hai ông Thiêïu, Kỳ không c̣n muốn
xuất hiện chung với nhau ngoài công cộng! Sau cùng, với sự nài nỉ của người Mỹ,
và v́ lợi ích quốc gia, Khối Liên Minh được khai mạc ngày 4 tháng 7-1968, với sự
chủ toạ của hai ông Thiệu và Kỳ. Khối Liên Minh tập họp hơn 25 đảng phái chính
trị lớn nhỏ ở Miền Nam. CIA tài trợ Đảng này cho đến cuối năm 1969. Tuy nghe
theo lời cố vấn của Hoa Kỳ, nhưng tổng thống Thiệu lúc nào cũng cảnh giác trước
dụng ư của người Mỹ. Ông nói với nhân viên CIA là không những VNCH phải đương
đầu với sự xâm nhập của quân đội Bắc Việt vào Nam, mà c̣n phải đương đầu với sự
xâm nhập của CIA vào nhân sự của chánh phủ! Tổng thống Thiệu tỏ thái độ dè dặt
hơn vào cuối năm 1968, khi tổng thống Lyndon Johnson gởi cho ông một lá thư, cho
biết có sự hợp tác của VNCH hay không, Hoa Kỳ cũng sẽ đơn phương xúc tiến hoà
đàm với Bắc Việt và MTGPMN. Tổng thống Thiệu sau đó cắt đứt liên lạc với CIA hơn
một tháng, chỉ cho họ tiếp xúc với phụ tá của ông, trung tướng Đặng Văn Quang.
Nhưng khi ông Thiệu càng kín đáo, càng dè dặt, th́ CIA lại càng muốn biết được
những ư nghĩ của ông Thiệu - bằng mọi cách.
Những tiết lộ khác trong CIA & Generals: T́nh báo của MACV biết rơ ngày giờ Bắc
Việt sẽ tấn công qua vùng Phi Quân Sự trong trận tổng công kích Mùa Hè Đỏ Lửa
1972, nhưng Hoa Kỳ không thông báo cho VNCH, hay tấn công vào các đơn vị Bắc
Việt đang tập trung quân. Ngược lại, thái độ của đại tướng Creighton Abrams và
đại sứ Bunker rất lạc quan, hai ông tuyên bố - trong cao điểm của cuộc tấn công
- là Bắc Việt sẽ hết quân sau trận tổng tấn công. Những chi tiết này làm người
đọc không khỏi thắc mắc, là có phải Hoa Kỳ đă cố ư để cho cuộc tấn công xảy ra?
Chi tiết này làm cho đọc giả nhớ lại câu đối thoại của tổng thống Richard Nixon
với Henry Kissinger là “?sau trận này, hai bên phải có một bên hết quân.”
Từ tháng 8-1972, để chuẩn bị cho những thương lượng sau cùng của Kissinger và Lê
Đức Thọ ở Paris, CIA được lệnh phải làm hao ṃn sức chống đối của tổng thống
Thiệu về một số điều khoản trong bản hiệp định (một trong những điều khoản ông
Thiệu đă sáng suốt cực lực phản đối, là Hoa Kỳ đồng ư cho Bắc Việt để lại quân ở
Miền Nam, Lào, Cam Bốt). Một số tài liệu giải mật ở giai đoạn này (từ tháng
8-1972 cho đến lúc kư Hiệp Định Paris, tháng 1-1973) cho thấy CIA có điệp viên
nằm trong Trung Ương Cục, qua những tin tức họ nhận được về cuộc nói chuyện giữa
Lê Đức Thọ và Kissinger.
Từ tháng 6-1973, liên hệ giữa thủ tướng Khiêm và tổng thống Thiệu trở nên khó
khăn. Ông Khiêm nói với Trưởng Sở CIA Saigon, Thomas Polgar, là ông Thiệu đang
tập trung quyền lực và càng lúc càng cố vị. Nhưng cũng từ tài liệu CIA, chúng ta
đọc biết ông Khiêm thường xuyên liên lạc với các Trưởng Sở CIA, từ Lewis Lepham
đến Ted Shackley, đến Polgar. Từ tháng 10-1972 đến ngày kư Hiệp Định Paris 1973,
CIA đến gặp thủ tướng Khiêm nhiều lần để t́m hiểu về trạng thái tinh thần của
tổng thống Thiệu.
Một ngày trước khi tướng Phạm Văn Phú gặp phái đoàn tổng thống Thiệu ở Cam Ranh
(14 tháng 3-1975), đại tá Lê Khắc Lư, Tham Mưu Trưởng Quân Đoàn II, đă thông báo
tin này ra cho CIA. Cho đến lúc đó, CIA và Pḥng Tùy Viên Quốc Pḥng (Tùy Viên
Quân Sự) vẫn chưa biết tổng thống Thiệu quyết định ǵ về Vùng II. Khi CIA xác
nhận tin này vào chiều ngày 14, th́ Bộ Tư Lệnh Quân Đoàn II đang chuẩn bị di tản.
Căn cứ vài tài liệu giải mật này, cho đến ngày hôm nay, CIA vẫn chưa xác định
được ông Thiệu ra lệnh ǵ cho ông Phú trong buổi họp dịnh mệnh ngày 14 tháng
3-1975.
Trong tuần lễ cuối cùng trước ngày kư Hiệp Định Paris, nhân viên của CIA, ṭa
Đại Sứ, và Pḥng Tùy Viên Quốc Pḥng cùng nhau làm áp lực với tổng thống Thiệu
và các viên chức thân cận chung quanh ông Thiệu. Đại sứ Bunker - được lệnh của
Kissinger - cho ông thiệu coi một số hồ sơ mật của Nixon để hăm doạ ông Thiệu ?
mánh lới đó cũng được lập lại với các ông Hoàng Đức Nhă, Trần Thiện Khiêm và
Đặng Văn Quang. Trong một cuộc đối thoại với Rodney Landreth, ông Nhă hỏi thẳng
Mỹ, “Tại sao Hoa Kỳ làm áp lực với VNCH mà không là Bắc Việt? Tại sao Hoa Kỳ
đang đi ngược lại những ǵ họ đă chủ định thực hiện?” Nhưng câu hỏi của ông Nhă
không thành vấn đề vào tuần lễ cuối cùng của tháng giêng, 1973.
Tuy là tài liệu được giải mật, nhưng một số lớn chi tiết, tên tuổi của những
điệp viên, điềm chỉ viên trong sách vẫn c̣n bị kiểm duyệt (đục bỏ). Nhưng nếu
đọc giả gom những chi tiết trong CIA & Ngo, trong CIA & Generals, và so sánh với
một số tài liệu đă được giải mật từ Bộ Ngoại Giao (Foreign Relations of the
United States, Vietnam), đọc giả có thể suy luận ai là ai nằm dưới những lằn đen
kiểm duyệt.
Với giới hạn của của ban chủ biên, năm, sáu trang điểm sách chỉ nói lên được một
phần của CIA and the House of Ngo: Action in South Vietnam, 1954-1963; và, CIA
and the Generals: Covert Support to the Military Government in South Vietnam.
|