B́nh Luận Thời Sự

 

Trăi qua một cuộc bể dâu...

Những điều trông thấy mà đau đớn ḷng ..(Nguyễn Du)

 

Mục Lục

 

Người Ghé Thăm

 

 

SAIGON TIMES PTY

ABN 71 088 414 b457

 

175 William St,

Bankstown NSW 2200

 

PO BOX 409

Bankstown NSW 2200

 

Tel: (02) 9793 2557

Fax: (02) 9791 5438

 

Email: info@saigontimes.com.au

 

Chủ Bút - Editor

Hữu Nguyên

Mob: 0438 699 150

 

Phụ Tá Chủ Bút - Assistant Editor

Phạm Thanh Phương

Mob: 0411 638 770

 

Cố Vấn Luật Pháp- Legal Advisor

Luật Sư Lê Đ́nh Hồ

(LeDinh Lawyers)

Tel: (02) 9708 6629

Mob: 0413 166 152

 

Ban Biên Tập

Phạm Thanh Phương

Lê Đ́nh Hồ

Hoàng Tuấn

Thùy Dzung, Hữu Nguyên

 

Cộng Tác

 Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Sầu Đông, Trần Ngân Tiêu

Mơ Sàig̣n, Vũ Hồ, Quốc Hải

Con Hưu, Phạm thái Lai

Doăn B́nh, Bội Diệp, Lê Phụng

Lẩn Thẩn Hậu Sinh, Ái Vân

 

Quảng Cáo - Advertising

LeBa Ethnic Media

 

Tel: (03) 9521 3366

Fax: (03) 9521 3436

 

Thùy Dzung

Tel: (02) 9785 8431

Mob: 0415 260 060

 

ĐẠI DIỆN CÁC TIỂU BANG:

VICTORIA

Trần Đ́nh Song

Tel: (03) 9327 7571

Fax: (02) 9827 7571

Mob: 0423 081 289

 

SOUTH AUSTRALIA

Hồ văn Tuấn

Tel: (08) 8345 2007

 

 

Những Suy Nghĩ và Mong Ước Sau Một Cuộc Tranh Luận

-Hoàng Ngọc-Tuấn-


LGT: Sáng Thứ Tư 27/5/2009, Sàig̣n Times (SGT) nhận được qua email, bài viết "Nh́n Lại Một Cuộc Tranh Luận" của ông Hoàng Ngọc-Tuấn (HN-T). Khi đó báo SGT số Thứ Năm 28/5 đă in nên ông HN-T cho biết, sẽ viết lại bài khác, trong đó có thêm phần trả lời thắc mắc của độc giả SGT. Đến tối Thứ Bảy, 30/5, chúng tôi nhận được bài viết "Những Suy Nghĩ và Mong Ước Sau Một Cuộc Tranh Luận" của ông; và chúng tôi đă cố gắng để đăng ngay trong số báo tuần trước, Thứ Năm 4/6, nhưng không kịp, nên tuần này, xin giới thiệu cùng quư độc giả bài viết của ông. Mặc dù bài viết của HN-T tŕnh bầy nhiều vấn đề, nhưng tất cả những vấn đề đó đều xoay quanh trọng tâm của bài viết là ông muốn biện minh cho việc ông gặp gỡ Nguyễn Quang Thiều (NQT), một đảng viên CS và là cán bộ văn hóa của VC, vào năm 1992, tại Sydney; mà SGT đă đề cập trong số báo ngày 14/5/2009 (trang 8). V́ trong bài viết của ông HN-T có 2 phần ngắn đi ra ngoài chủ đề, nên chúng tôi mạn phép không đăng, và được ghi bằng dấu 3 chấm trong ngoặc vuông [... ...]. Quư độc giả nào muốn có nguyên văn bài viết của ông HN-T, xin vui ḷng liên lạc với ṭa soạn (info@saigontimes.com.au). Riêng phần chú thích của tác giả được chúng tôi đánh số trong ngoặc vuông [x]; và 21 nhận xét của ông Hữu Nguyên về bài viết của ông Hoàng Ngọc-Tuấn được đánh số trong ngoặc đơn (x). Ngoài ra, để làm sáng tỏ mối quan hệ giữa ông HN-T và NQT, cùng vai tṛ nguy hiểm của cán bộ văn hóa VC NQT, ông Hoàng Tuấn có bài viết "Nguyễn Quang Thiều là ai?". SGT chân thành cảm ơn ông HN-T, và sau đây, kính mời quư độc giả theo dơi bài viết của ông cùng những nhận xét của ông Hữu Nguyên.

*

Từ ngày báo Việt Luận đăng bài phỏng vấn tôi về vụ Casula Powerhouse cho đến nay đă hơn một tháng. Dư luận đă trở nên khá náo nhiệt, nhiều độc giả đă tham gia tranh luận. Có nhiều người đă điềm tĩnh đối thoại bằng lư luận, nhưng cũng có nhiều người đă vi phạm những nguyên tắc căn bản của tranh luận, rời xa vấn đề chính, nhắm đến việc chụp mũ, bôi lọ cá nhân và xúc phạm đến cả đời sống riêng tư. Tôi thiển nghĩ nếu cuộc tranh luận này tiếp diễn th́ có lẽ sẽ không c̣n hữu ích và có thể gây tổn thương đến giá trị văn hoá của sinh hoạt báo chí và cộng đồng. V́ thế, tôi viết những ḍng chữ này như những lời cuối cùng của tôi trong cuộc tranh luận này. (1)
Trong một xă hội dân chủ đa nguyên, th́ những ư tưởng dị biệt là điều không tránh khỏi. V́ có sự dị biệt trong ư tưởng, nên mới sinh ra tranh luận; và tôi tin rằng bất cứ cuộc tranh luận nào, nếu được thực hiện đúng theo những nguyên tắc của văn hoá tranh luận, th́ cũng đều cần thiết, v́ tranh luận sẽ giúp mọi người nh́n thấy nhiều góc cạnh hơn và do đó ư tưởng của mỗi người sẽ được bổ khuyết để phong phú hơn, sâu sắc hơn. Chuyện đúng và sai, đôi khi rất khó có kết luận rốt ráo, và thật ra không quan trọng bằng cơ hội cho mỗi người được lắng nghe nhiều tiếng nói khác nhau.
Là phàm nhân th́ không ai tránh khỏi sự lệch lạc, mặc dù có cố gắng đến đâu đi nữa. Mỗi người được sinh ra và trưởng thành theo một cách khác nhau, thụ nhận những ảnh hưởng văn hoá khác nhau, theo đuổi những công việc khác nhau, và có những chuyên môn khác nhau, do đó, mỗi người nh́n cuộc sống từ góc độ của ḿnh, và không ai có thể có một cái nh́n toàn diện và tuyệt đối chính xác. Văn hào Elias Canetti có nói rằng chân lư là một đồng cỏ mênh mông, không ngừng lắt lay trong gió; ta phải cảm nhận nó như một thực thể đang chuyển động, phải hít thở nó như một luồng không khí; nếu ta không cảm nhận nó, không hít thở nó như thế, th́ nó trở thành một cái trụ đá, và ta có thể va đầu vào đó mà toé máu.
Tôi may mắn được sinh ra và lớn lên ở miền Nam Việt Nam, thừa hưởng một bầu không khí khá tự do thoải mái, dù trong thời chiến tranh. Bước vào trung học, tôi đă bắt đầu say mê văn học nghệ thuật, và tôi chịu ảnh hưởng lối nh́n khoáng đạt và tự do của giới nghệ sĩ và trí thức của miền Nam Việt Nam. Trong khi văn nghệ sĩ ở miền Bắc bị bắt buộc phải nghĩ, nói và viết theo một đường lối duy nhất do Đảng CSVN quyết định, th́ văn nghệ sĩ ở miền Nam hầu như hoàn toàn tự do tư duy, phát biểu và sáng tác theo ư hướng của cá nhân ḿnh. Nh́n lại sinh hoạt báo chí văn nghệ thời ấy ở miền Nam, chúng ta thấy một tinh thần dân chủ đa nguyên mà giới văn nghệ sĩ ở miền Bắc khó có thể tưởng tượng nổi.
Báo chí ở miền Nam thời ấy thể hiện rất nhiều khuynh hướng khác nhau, thậm chí tương phản với nhau. Thử nh́n lại những tạp chí nổi tiếng như: Sáng Tạo, Hành Tŕnh, Đất Nước, Tŕnh Bày, Đối Diện, Văn, Tân Văn, Bách Khoa, Thời Tập, Văn Mới, Thái Độ, v.v..., chúng ta thấy mỗi tờ có một đường lối nghệ thuật và chính trị khác nhau, thậm chí ngay trong một tờ báo cũng có thể dung chứa những cây bút có khuynh hướng hoàn toàn khác nhau. Chẳng hạn, tạp chí Thái Độ do các con cháu của Nhất Linh Nguyễn Tường Tam chủ trương và điều hành, nhưng họ vẫn giao du và cộng tác với những nhà văn theo Cộng Sản như Trần Kỳ, Phan Trước Viên, Trần Triệu Luật, Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Nguyễn Quốc Thái... Trong tạp chí Bách Khoa, chúng ta thấy có Vơ Phiến là nhà văn chống Cộng, ngồi chung với Vũ Hạnh là nhà văn theo Cộng Sản, và những nhà văn khuynh tả như Nguyễn văn Trung, Nguyễn Ngọc Lan... Trước 1975, nhóm của các nghệ sĩ nổi tiếng như Lê Thành Nhơn, Trịnh Cung, Trịnh Công Sơn, Đinh Cường, Bửu Ư... đều là bạn thân với nhau, nhưng mỗi người có một lập trường chính trị riêng. Lê Thành Nhơn và Trịnh Cung là sĩ quan QLVNCH, các nghệ sĩ kia lại thuộc thành phần khuynh tả và/hoặc có liên hệ với Cộng Sản. (2)
Văn hoá miền Nam đề cao tư duy độc lập. Văn nghệ sĩ và giới trí thức ở miền Nam tôn trọng và bảo vệ quyền tự do tư tưởng và ngôn luận cho ḿnh và cho người khác. Khi có sự va chạm giữa các lập trường khác nhau, th́ họ tranh luận thấu đáo bằng bút mực, chữ nghĩa. Khi cầm súng đối đầu nhau trên mặt trận, th́ họ bóp c̣ súng, chiến đấu một mất một c̣n. Nhưng trong sinh hoạt văn chương họ vẫn luôn luôn tôn trọng nhau, đối xử với nhau một cách trí thức. Ngay cả khi lập trường chính trị đối lập nhau, họ vẫn luôn luôn bảo vệ quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của đối phương. Điển h́nh nhất là trường hợp của Vũ Hạnh, một nhà văn Cộng Sản nằm vùng. Ông ta đă từng bị bắt giam dưới thời Tổng thống Diệm, rồi lại bị bắt giam dưới thời Tổng thống Thiệu, nhưng ông lại được hội văn bút VNCH (chủ tịch là Thanh Lăng, và Vơ Phiến là một hội viên) can thiệp với chính quyền để trả tự do. Khi ra khỏi tù, Vũ Hạnh c̣n được nhiều nhà văn miền Nam giúp đỡ tiền bạc cho sinh sống. Thế rồi, sau 1975, với thái độ của một người Cộng Sản, Vũ Hạnh đă trắng trợn phản bội tất cả những ân nhân của ḿnh ra sao th́ bây giờ ai cũng biết rơ quá rồi. (3)
Vũ Hạnh là như thế, v́ con người Cộng Sản được đào tạo để sống như thế. Con người miền Nam tự do th́ ngược lại. Thế Uyên, chủ bút của tạp chí Thái Độ, là một sĩ quan QLVNCH. Sau 1975, ông bị đưa vào trại tập trung cải tạo của CSVN. Sau khi ra tù, ông thỉnh thoảng vẫn rủ những nhà văn miền Nam theo Cộng Sản như Nguyễn Trọng Văn, Lữ Phương, Nguyễn Quốc Thái... đi nhậu lai rai.” Ông nói: Lập trường bên nào bên đó giữ, quốc vẫn quốc, cộng vẫn cộng, t́nh bạn cao hơn lập trường chính trị phe phái.”[1] (4)
Trước kia, ở miền Nam, không ai thắc mắc khi Vơ Phiến giao du với Vũ Hạnh, hay Thế Uyên giao du với Lữ Phương cả. Đó là thái độ văn hoá trí thức của miền Nam tự do. Họ tôn trọng sự phán đoán và tư duy độc lập của người khác. Những người sinh ra và trưởng thành ở miền Bắc XHCN không thể nào tưởng tượng nổi một thái độ văn hoá trí thức như vậy. (5)
Anh Hữu Nguyên viết bài Tại sao ông Hoàng Ngọc-Tuấn lại 'mang cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn'?”, đăng trên báo SGT ngày 14/5/2009, chất vấn tôi rằng tại sao tôi giao du với nhà thơ Nguyễn Quang Thiều. Tôi không hề ngạc nhiên về sự chất vấn của anh, v́ tôi thấy đó là phản ứng tự nhiên và thành thật của anh. Anh không được may mắn như tôi, v́ anh sinh ra và lớn lên ở miền Bắc XHCN, th́ tất nhiên anh khó có thể cảm thông được với cái văn hoá tự do của giới trí thức miền Nam. (6)
Năm 1992, nhà thơ Nguyễn Quang Thiều được Bộ Ngoại Giao và Thương Mại Úc (lúc ấy hai bộ c̣n ghép chung) lần đầu mời sang Úc trong chương tŕnh Cultural Travel Award để tham dự một cuộc hội thảo văn học đương đại tại Canberra. Kịch tác gia Tạ Duy B́nh lúc ấy đang sống tại Canberra, đọc báo thấy có Nguyễn Quang Thiều đến Canberra; v́ yêu thích thơ của Thiều, nên B́nh đă nhờ Bộ Ngoại Giao Úc giúp anh liên lạc với nhà thơ. Rồi anh đến gặp nhà thơ. (7) Sau đó, anh gọi điện thoại cho tôi, kể lại chuyện anh nghe Thiều đọc thơ rất hay. Rồi anh hỏi tôi có muốn gặp Thiều hay không, tôi nói muốn gặp”. B́nh trao điện thoại cho Thiều nói chuyện với tôi. Tôi rất vui, v́ hồi đầu thập niên 90, Thiều là nhà thơ cách tân hàng đầu ở miền Bắc. Tôi là người nghiên cứu văn học nghệ thuật, nên tôi muốn gặp Thiều để t́m hiểu về t́nh h́nh tư duy và sáng tác ở Việt Nam lúc ấy. Tôi hẹn sẽ đón Thiều ở phi trường Sydney vào ngày hôm sau. Khi Thiều ra khỏi sân bay, tôi cùng nhóm bạn trẻ văn nghệ sĩ tỵ nạn của tạp chí Tập Họp đă chào đón Thiều, và tôi đă thương lượng với nhân viên của Bộ Ngoại Giao Úc để đưa Thiều về nhà vui chơi với anh em văn nghệ. Lúc ấy khoảng 9 giờ tối, chúng tôi chở Thiều trên xe hơi, khi qua một quăng đường vắng, Vơ Quốc Linh, một người bạn thơ của tôi, hỏi Thiều: Anh có biết chúng tôi sẽ chở anh đi đâu không?” Thiều đáp: Không.” Linh nói: Chúng tôi chở anh đến một cánh đồng hoang và sẽ giết anh v́ anh là Cộng Sản.” Thiều giật ḿnh: Ấy! Nghe ghê quá!” Và chúng tôi cười ầm lên. Tôi nói: Đáng lẽ chúng tôi phải giết anh, nhưng thơ của anh đă cứu anh đấy nhé.” Năm ấy tôi c̣n độc thân và chưa có nhà riêng, nên chúng tôi đưa Thiều về ngôi nhà mà nhóm bạn trẻ ấy đă thuê chung để ở và học đại học. Chúng tôi cùng uống rượu và đọc thơ suốt đêm. Bây giờ chúng tôi c̣n giữ cuốn băng thu giọng Thiều đọc những bài thơ mới của anh. [... ...]
Không phải tôi chỉ giao du với Nguyễn Quang Thiều, mà tôi giao du với rất nhiều những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ cách tân ở VN hôm nay, từ Nam chí Bắc. Công việc của một người nghiên cứu văn học nghệ thuật đ̣i hỏi tôi phải tiếp xúc với họ, để có thể hiểu biết sâu sắc hơn về t́nh h́nh tư duy và sáng tác của giới văn nghệ sĩ VN hôm nay. (8) Mỗi lần có dịp gặp gỡ các văn nghệ sĩ từ Việt Nam đến Úc, tôi đều làm quen với họ, mời họ về nhà chơi, và giới thiệu cho họ về những điều mới lạ trong nghệ thuật Úc, và về đời sống tự do dân chủ của nước Úc. Chuyện tṛ với họ, tôi chưa từng nghe họ ca tụng CSVN một chút nào. Ngược lại, tôi thường nghe họ than van về sự mất tự do trong sáng tạo nghệ thuật, về những sai lầm tệ hại của Đảng và Nhà nước CSVN. (9) Qua họ, tôi biết rất nhiều về thực trạng chính trị trong sinh hoạt văn học nghệ thuật ở Việt Nam hôm nay.
Có một độc giả của báo Saigon Times thắc mắc rằng tại sao tôi đă cùng Tạ Duy B́nh dựng vở nhạc kịch Mười Một Khúc Cảm”, phổ thơ Nguyễn Quang Thiều. Tôi xin trả lời đầu đuôi như sau.
Năm 2002, Nguyễn Quang Thiều gửi tặng đạo diễn Úc Bruce Keller tập thơ The Women Carry Water (Những người đàn bà gánh nước sông) của anh, do Martha Collins dịch và University of Massachusetts Press xuất bản năm 1997. Bruce Keller là người sáng lập đoàn kịch Citymoon cùng với Tạ Duy B́nh, và ông là bạn thân của chúng tôi, đă hợp tác với chúng tôi để dàn dựng hơn 10 vở kịch, đặc biệt trong đó có vở nhạc kịch "Soft Silk, Rough Linen" nói về thảm cảnh thuyền nhân Việt Nam tỵ nạn Cộng Sản, do chính tôi sáng tác phần âm nhạc, và vở nhạc kịch này đă được lưu diễn cùng dàn nhạc đương đại lừng danh The Seymour Group năm 2001-2002 tại nhiều nơi.[2] Sau thành công của vở nhạc kịch "Soft Silk, Rough Linen", đạo diễn Bruce Keller nói rằng ông rất thích tập thơ của Thiều, đặc biệt là chùm thơ "Eleven Parts of Feeling" (Mười Một Khúc Cảm), và ông muốn dàn dựng chùm thơ này thành một vở nhạc kịch. Rủi ro thay, trong lúc đang lập dự án dàn dựng th́ ông bất ngờ bị ung thư tuỵ tạng và qua đời năm 2003. Xúc động sâu sắc v́ cái chết của nhà đạo diễn tài ba Bruce Keller, Tạ Duy B́nh quyết định tiếp tục thực hiện dự án dàn dựng vở nhạc kịch "Eleven Parts of Feeling" (Mười Một Khúc Cảm) để vinh danh và tưởng niệm Bruce Keller. Tôi hoàn toàn đồng ư với B́nh, v́ tôi vô cùng yêu mến Bruce Keller, và tôi thấy chùm thơ "Mười Một Khúc Cảm" là một chùm thơ rất hay. [... ...]
Tạ Duy B́nh đứng ra đạo diễn và chuyển thể kịch bản thành vũ điệu. Tôi chịu trách nhiệm phần âm nhạc, và đă phổ 11 bài thơ của Thiều (bản tiếng Anh) thành 11 chương nhạc kịch. Vở nhạc kịch "Eleven Parts of Feeling" đă được thực hiện trong ṿng 6 tháng, và đă được công diễn tại Bankstown Town Hall Theatre vào đêm 25, 26 và 27 tháng Sáu, 2004.
Tôi đă phổ nhạc 11 bài thơ một cách đầy hứng thú và trân trọng. Đối với tôi, tôi trân trọng bất cứ một tác phẩm nào có giá trị nghệ thuật và có nội dung phù hợp với những phẩm tính cao quư của con người. Tôi không hề đánh giá một tác phẩm qua lư lịch của tác giả. Chỉ những người Cộng Sản mới đánh giá tác phẩm như thế. (10) Trước 1975, ở miền Nam, những ca khúc thời kháng chiến chống Pháp của Lưu Hữu Phước vẫn được mọi người hát, những bài thơ t́nh của Chế Lan Viên, Xuân Diệu, Huy Cận... vẫn được đem vào chương tŕnh giảng dạy văn học từ bậc trung học đến đại học, dù các tác giả của chúng là những đảng viên CS thâm niên và nắm giữ vị trí hàng đầu của những cơ quan tuyên truyền của CS Bắc Việt. Người miền Nam tự do đă chọn bài hát của Lưu Hữu Phước để làm Quốc Ca, và cho đến bây giờ, ở hải ngoại, người Việt tỵ nạn vẫn tiếp tục hát bài Quốc Ca ấy mỗi khi chào cờ VNCH, bất chấp Lưu Hữu Phước là ai. Đó chính là sự khác biệt to lớn giữa văn hoá miền Nam tự do và miền Bắc XHCN. (11)
Là những văn nghệ sĩ trí thức đă trưởng thành, không ai có thể tuyên truyền giáo dục ai được cả. Mỗi người có tư duy độc lập của riêng ḿnh. Ngay cả những trại cải tạo của CSVN vẫn không thể làm lay chuyển ư chí của những người miền Nam yêu tự do và sự thật. (12)
Là một con người tự do, tôi có quyền gặp gỡ bất cứ ai trên trái đất này. (13) Chỉ ở miền Bắc XHCN trong thời chiến tranh th́ mới có cái luật lệ quái đản rằng ai tiếp xúc với người nước ngoài th́ phải báo cáo cho Công An. (14) Chúng ta đang sống tại Úc, một đất nước tự do và dân chủ. Chúng ta phải sống như những con người biết tự do và dân chủ thật sự và được hưởng tự do và dân chủ thật sự. (15)
Về cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn” của tôi, th́ tôi xin kể lại vài ví dụ để độc giả thông cảm.
Năm 1994, tôi cộng tác với Tạ Duy B́nh để thực hiện vở kịch The Return, dựa trên dụ ngôn của chúa Jesus về đứa con đi hoang trở về” trong kinh Thánh Luca (15:11-32) và khai triển từ những ư tưởng trong tác phẩm Le Retour de I'Enfant Prodigue của André Gide. Vở kịch The Return diễn tả câu chuyện của một con người rời bỏ đất nước để ra đi tỵ nạn, và cuối cùng trở về với một quê hương vĩnh cửu trong tâm linh, v́ quê hương địa lư cụ thể đă hoàn toàn tan nát. Cuộc trở về ấy là một sự thăng hoa tâm linh, như trở về nước Thiên Đàng hay về cơi Niết Bàn. Vở kịch rất thành công, được giới phê b́nh và tất cả báo chí Úc ca ngợi, và được chọn làm tiết mục mở màn cho Đại Hội Kịch Nghệ Á Châu lần thứ 2 tại Sydney, ở Belvoir St Theatre, một địa điểm biểu diễn kịch nghệ hàng đầu của Úc. Belvoir St Theatre và chúng tôi gửi quảng cáo và tin tức đến tất cả báo chí Việt ngữ ở Sydney, nhưng không một tờ báo nào chịu đăng. Chúng tôi hỏi v́ sao, th́ họ cho biết rằng CĐNVTD nghi ngờ vở kịch The Return kêu gọi đồng bào tỵ nạn trở về Việt Nam để hợp tác với Cộng Sản, v́ ngày khai mạc Đại Hội Kịch Nghệ Á Châu là ngày 2 tháng 9, trùng với ngày Quốc Khánh của CSVN! Chúng tôi giải thích cách nào cũng vô ích. Suốt 2 tuần tŕnh diễn ở Belvoir St Theatre, phía người Việt chỉ có dăm ba người bạn và thân nhân đến xem, ngoài ra toàn là khán giả Úc. T́nh trạng đó đă gây nên sự bức xúc nơi ban tổ chức Đại Hội Kịch Nghệ Á Châu, và họ đă đưa vấn đề lên đài phát thanh ABC và đài truyền h́nh SBS. Sau đó, các đài ấy có phỏng vấn một số lănh đạo cộng đồng, nhưng chỉ có một vị trả lời rằng CĐNVTD có quyền nghi ngờ. Thế là hết chuyện. (16)
Một chuyện nữa: cách đây mười mấy năm, tôi đứng ra rèn luyện cho một ban hợp ca của Hướng Đạo Việt Nam ở Sydney. Nhân dịp Tết, Trưởng Nguyễn Văn Thuất đề nghị ban hợp ca tham gia chương tŕnh văn nghệ Hội Chợ Tết tại Warwick Farm. Chúng tôi ghi tên tham gia với bài Xuân Hành” của Phạm Duy. Mấy ngày sau, Trưởng Thuất bảo tôi đưa bản nhạc cho ông để ông nộp cho ban tổ chức kiểm duyệt. Tôi đưa bản copy lời ca. Sau đó, Trưởng Thuất cho tôi biết rằng ban kiểm duyệt đ̣i hỏi phải nộp copy bản nhạc chính thức, có đầy đủ nhạc và lời và tên tác giả. Tôi đành phải lục lọi để kiếm cho ra bản in gốc mà copy để nộp, nhưng lúc ấy tôi thật sự buồn chán, v́ thấy rằng ngay cả một tiết mục văn nghệ của Hướng Đạo Việt Nam mà vẫn bị nghi ngờ, th́ khó ḷng mà sinh hoạt như những nghệ sĩ tự do trong cộng đồng người Việt tỵ nạn. (17)
C̣n nhiều ví dụ oan khiên nữa, nhưng hai ví dụ trên đây chắc cũng đủ.
Là một nghệ sĩ và một người nghiên cứu văn học nghệ thuật, tôi khao khát được sống và làm việc trong một xă hội thật sự tự do, dân chủ và văn minh, nơi quyền phát biểu được tôn trọng, những lời phê b́nh được lắng nghe, những ư tưởng mới được đón nhận. Thật vô cùng thất vọng, khi một người góp ư thành thật, th́ bị những người khác gạt phăng đi, và trả lại bằng một cái mũ theo Cộng Sản” (18)
Tôi ước mơ những ư kiến của tôi được lắng nghe, và được đáp lại bằng những luận cứ thuyết phục. Tôi là một phàm nhân với tất cả những sự bất toàn. Tôi sẵn sàng lắng nghe mọi người, và khi tôi nhận ra sự sai lầm của ḿnh, tôi sẵn sàng xin lỗi và sửa chữa. Một cái mũ theo Cộng Sản” th́ thật là vô ích, v́ nó chấm dứt mọi cuộc đối thoại và tranh luận. Khi một xă hội chỉ c̣n tư duy và hành động một chiều, không c̣n những cuộc đối thoại và tranh luận lịch sự trong tinh thần văn hoá tương kính, th́ xă hội ấy sẽ càng ngày càng nghèo đi, khó ḷng mà phát triển và tiến bộ. Và lư tưởng của người Việt tỵ nạn không phải là để xây dựng một xă hội như vậy. (19)
Chúng ta đă bỏ nước ra đi để t́m một cuộc sống tự do, dân chủ, an cư lạc nghiệp, và tiếp tục tranh đấu cho một quê hương Việt Nam tự do, dân chủ thật sự trong tương lai. Thật vô ích biết mấy, nếu ở trên xứ người, chúng ta lại tiếp tục sống trong sự nghi kỵ không ngừng đối với nhau. Hàng ngày, đọc báo, chúng ta thấy bao nhiêu hội đoàn, tổ chức chống Cộng đă chia rẽ làm hai, làm ba, rồi nghi ngờ nhau, chụp mũ cho nhau. Đă hơn 30 năm qua rồi. Nếu chúng ta cứ tiếp tục làm như vậy th́ làm sao mà đấu tranh chống Cộng Sản? Làm như vậy, chúng ta chỉ chống nhau mà thôi. Bỏ nước ra đi để tiếp tục chống nhau trên xứ người th́ quả là một điều hoàn toàn vô nghĩa. (20)
Như tôi đă nói trong một bài trước, đối với tôi, tổ chức CĐNVTD là một tổ chức của những anh chị em t́nh nguyện bỏ th́ giờ, công sức, tâm trí, làm việc không ăn lương để phục vụ cho phúc lợi của cộng đồng người Việt tỵ nạn. Các anh chị em là những người đáng được kính trọng và biết ơn. Tôi tuyệt đối không có điều ǵ mâu thuẫn với anh chị em cả. Khi tôi thấy có điều ǵ cần góp ư hay phê b́nh, th́ tôi thẳng thắn và công khai nói ra bằng tên thật của tôi, bằng con người thật của tôi, và chỉ mong anh chị em lắng nghe và trao đổi trong tinh thần dân chủ và tương kính. Tôi là một người chuyên về nghệ thuật, và nếu CĐNVTD hay bất cứ hội đoàn nào khác trong cộng đồng người Việt tỵ nạn cần tổ chức những buổi tŕnh diễn, triển lăm, hội thảo văn học nghệ thuật có giá trị, th́ tôi sẵn sàng tham gia và hỗ trợ, và sẵn sàng đứng ra kêu gọi anh chị em văn nghệ sĩ có thực tài tích cực tham gia để xây dựng những chương tŕnh vừa đạt phẩm chất nghệ thuật cao, vừa hoàn toàn phù hợp với lư tưởng tự do của người Việt tỵ nạn Cộng Sản. (21)
Trước khi dứt lời, tôi xin cầu chúc và mong ước đồng bào người Việt tỵ nạn tại Úc được một cuộc sống an cư lạc nghiệp trong t́nh yêu thương, trong tinh thần cởi mở trao đổi văn minh, hướng đến những lư tưởng cao đẹp và sớm giành lại được một quê hương VN không c̣n độc tài CS, một quê hương tự do, dân chủ thật sự. w

Chú thích:
[1] Xem Nhóm Thái Độ: những người lăng mạn cuối cùng” của Thế Uyên, http://tienve.org/ home/literature/viewLiterature.do?action=viwArtwork&artworkId=8666
[2] Xem "Soft silk... Rough linen", http://tienve. org/home/music/viewMusic.do?action=viewArtwork&artworkId=395

21 NHẬN XÉT CỦA HỮU NGUYÊN VỀ NHỮNG SAI LẦM của hoàng ngọc-tuấn
(1) Trong bất cứ cuộc tranh luận nào, cũng có một số ít người ác ư, thích chụp mũ, chỉ muốn bôi nhọ cá nhân, bên cạnh số đông những người sáng suốt, thành tâm và thiện ư. Chắc chắn một số ít người ác ư này không thể nào xoay chuyển được một cuộc tranh luận đứng đắn. Với những người sáng suốt, thành tâm và thiện ư, dù họ có là người trực tiếp tham gia cuộc tranh luận, hay là chủ bút một cơ quan ngôn luận có trách nhiệm đăng tải các ư kiến dị biệt, hay chỉ thuần tuư là độc giả, thính giả, theo dơi cuộc tranh luận qua truyền thông, chắc chắn cuộc tranh luận dù có tiếp diễn theo chiều hướng nào cũng luôn luôn hữu ích và không hề "gây tổn thương đến giá trị văn hóa của sinh hoạt báo chí và cộng đồng" như ông HN-T đă nhận định. Ông HN-T có quyền đơn phương chấm dứt cuộc tranh luận v́ thời gian, công việc, hoàn cảnh gia đ́nh, hay v́ đă nhận ra điều hay lẽ phải... C̣n viện cớ v́ một số người "chụp mũ, bôi lọ cá nhân" mà đơn phương chấm dứt cuộc tranh luận th́ e không hợp lư, v́ như vậy ông đă coi những người có ác ư quan trọng hơn những người có thiện ư trong cuộc tranh luận.
(2) Đời sống khoáng đạt và tự do của văn hóa Miền Nam là điều vô cùng đáng quư. Nhưng để sống xứng đáng trong môi trường đáng quư đó, nhà văn nhà báo không chỉ chấp nhận những khuynh hướng chính trị dị biệt, hay "tự do giao thiệp" với những nhà văn, nhà báo cộng sản, mà quan trọng hơn, c̣n phải sáng suốt và thận trọng bảo đảm, thái độ chấp nhận những dị biệt và việc "tự do giao thiệp" của ḿnh không hề ảnh hưởng đến lập trường quốc gia của bản thân, để ḿnh không phản bội lương tâm, mang tội tiếp tay VC xâm lăng Miền Nam. Trong số những nhà văn, nhà thơ ông HN-T đề cập, có bao nhiêu người đă làm được điều đó, và những ai không? Những người không làm được, sau 30-4-1975, khi chứng kiến đất nước tang thương suốt 34 năm dài, họ đă ân hận, giầy ṿ như thế nào? Rất tiếc, ông HN-T đă không nói lên được điều quan trọng này. Trái lại, chỉ v́ muốn biện minh cho việc gặp gỡ cán bộ cán bộ văn hóa VC NQ Thiều, ông HN-T chỉ nêu một cách chung chung cái sinh hoạt báo chí "tự do giao thiệp" với VC nằm vùng của Miền Nam trước 1975, mà không hề phân tích bản chất cùng những hậu quả của việc đó, cho dù đến nay đă 34 năm trôi qua kể từ khi cuộc chiến tranh chấm dứt và ông HN-T đă bước vào tuổi 50!
(3) Can thiệp cho Vũ Hạnh được thả là việc nên hay không nên, đúng hay sai, có lợi hay có hại cho cuộc đấu tranh chống VC xâm lăng? Việc can thiệp đó có đúng là "bảo vệ quyền tự do tư tưởng và ngôn luận của đối phương" như ông HN-T nhận định, hay việc đó đă gián tiếp, tiếp tay cho VC? Những người có trách nhiệm giúp cho Vũ Hạnh được ra khỏi tù, có cảm thấy ân hận, khi biết được sau 1975, Vũ Hạnh đă trắng trợn phản bội tất cả những ân nhân, mang lại khổ đau cho không biết bao nhiêu nhà văn nhà thơ Miền Nam khác? Một người với tấm ḷng vị tha cao cả, cứu một kẻ ác dù biết nó là ác, để rồi sau đó nó quay lại giết ḿnh, người đó có thể không ân hận với việc làm dại dột của ḿnh. Nhưng nếu kẻ được cứu quay lại giết không những ḿnh mà c̣n giết hại những người thân yêu của ḿnh cùng những người vô tội khác, th́ hành động cứu kẻ ác đó phải được phán xét, phê phán; và người có hành động đó, nếu là con người, chắc chắn sẽ phải ân hận. Chắc ông HN-T cũng biết, trong chiến tranh VN, không biết bao nhiêu người "mẹ chiến sĩ" chỉ v́ thương người, hay v́ ảo tưởng, v́ bị VC mua chuộc... đă cưu mang VC trong nhà, để rồi sau 30-4-1975, họ đă tỉnh ngộ và ân hận về việc làm "nuôi ong tay áo, nuôi cáo trong nhà". Người dân b́nh thường c̣n biết tỉnh ngộ với việc "thương kẻ thù một cách mù quáng" của ḿnh, huống chi là người trí thức cầm viết. Đáng tiếc, sau 34 năm kết thúc chiến tranh, ông HN-T không nhận thức được điều đó, ông chỉ đề cập đến việc cứu Vũ Hạnh một cách chung chung mà không chịu phân tích những sai lầm quanh việc cứu Vũ Hạnh. Nói cách khác, chỉ v́ muốn biện minh cho hành động gặp cán bộ văn hóa VC Nguyễn Quang Thiều của ông, ông HN-T đă t́m mọi cách tránh né, vô t́nh hay cố ư bóp méo các sự kiện lịch sử. Để hiểu rơ hơn hiện tượng Vũ Hạnh, tôi xin trích đoạn nhận định của tác giả Nguyễn Văn Lục trong bài viết, "Trường hợp nhà văn Nằm Vùng A. Pazzi” Vũ Hạnh": "Tôi cứ tự hỏi tại sao một nhà văn nằm vùng lại có thể ngang nhiên đi dạy học, ngang nhiên viếc lách, công khai viết lách, rồi đến khi bị bắt th́ cả đám trí thức, nhà văn, nhà báo t́m mọi cách để cứu ông ta ra khỏi tù? Câu trả lời là: Thế nó mới là người dân miền Nam, ngây thơ và nhân đạo, lấy t́nh người nên không nỡ, không đi tố cáo. Đó là một lẽ. Lẽ thứ hai là các chính thể miền Nam không thể không thực thi dân chủ, tự do, nhưng đồng thời không cảnh giác trước sự đe doạ và lợi dụng thể chế tự do ấy của người Cộng Sản. Dung ḥa được hai điều ấy, tự do và độc tài không phải là dễ. Kẽ hở không tránh được. Và v́ thế, rất nhiều những kẻ nằm vùng sống giữa hai lằn ranh ấy, sống lọt kẽ mà sống c̣n. Thái độ tố cáo là thái độ làm chính trị và các nhà văn miền Nam th́ coi tố cáo là hèn, là không tư cách nên im lặng. Một lầm lẫn giữa chính trị và đạo đức. Lại một sai lầm nữa."
(4) Có thể ông Thế Uyên là người có bản lănh cao, có lập trường minh bạch, nên ông ngồi nhậu với những nhà văn theo CS mà vẫn giữ vững lập trường quốc gia. Nhưng thử hỏi mấy người được như ông? Và trong cuộc đấu tranh chống VC xâm lăng tại Miền Nam trước đây, cũng như chống VC xâm nhập cộng đồng hải ngoại hiện nay, chúng ta có nên ngây thơ và dại dột mang trường hợp Thế Uyên làm thí dụ để xoá mờ lằn ranh quốc cộng, đẩy hàng trăm, hàng ngàn người cầm viết không có được bản lănh như Thế Uyên, rơi vào bàn tay thao túng của VC hay không? Trước đây mấy thập niên, Đức Giáo Hoàng Phao Lồ Đệ Nhị với đức tin cùng uy tín tuyệt đối của một vị Chủ Chăn, Ngài đă bắt tay với các lănh tụ cộng sản Nga, Ba Lan... để rồi đưa CS Nga và CS Đông Âu sụp đổ. Trái lại, có không biết bao nhiêu người bắt tay với CS để rồi thân bại danh liệt, không những bị VC nhuộm đỏ mà c̣n dại dột tiếp tay VC gây nên không biết bao nhiêu tội ác cho quê hương dân tộc, trở thành những tội đồ của lịch sử. Không biết khi đem trường hợp cá biệt bắt tay với CS mà vẫn giữ được lập trường quốc gia của Thế Uyên, ông HN-T muốn biện minh cho việc ông đón rước cán bộ văn hoá VC NQT và tự ví von ḿnh là Thế Uyên của thế kỷ 21; hay ông muốn kêu gọi mọi người nên noi gương Thế Uyên, ăn nhậu thả dàn với VC cho dù họ chưa đủ "hoả hầu" như Thế Uyên?
(5) Tôi không nghĩ là "không ai thắc mắc khi Vơ Phiến giao du với Vũ Hạnh, hay Thế Uyên giao du với Lữ Phương". Có thể ông HN-T không biết về những thắc mắc đó, hoặc những thắc mắc đó có thể không đến tai chính Vơ Phiến, Thế Uyên. Vả lại, biết đâu, bề ngoài ông Vơ Phiến và Thế Uyên giao du với Vũ Hạnh, Lữ Phương, nhưng bên trong họ có những lư do riêng, kể cả lư do cảm hoá bằng hữu? Riêng việc ông HN-T cho rằng, những người cầm viết có tinh thần quốc gia giao du với những người cầm viết nằm vùng của VC là "một thái độ văn hoá trí thức" th́ tôi không đồng ư. Một thái độ văn hoá trí thức đúng nghĩa bao giờ cũng gồm 2 yếu tố tiên quyết. Thứ nhất là nhận thức, phải biết sáng suốt phân biệt đâu là thật, đâu là giả; đâu là thiện, đâu là ác; đâu là cái đẹp, đâu là cái xấu. Thứ hai là hành động, phải biết bảo vệ và xiển dương chân thiện mỹ. Cụ thể là phải tránh xa cái ác, cái giả trá, cái xấu xa. Trong trường hợp gần gũi những kẻ ác, kẻ xấu, kẻ giả trá th́ phải có khả năng cảm hóa họ, chứ không thể để họ lôi kéo, trở thành công cụ cho kẻ ác. Trong bối cảnh Miền Nam đang bị CS Hà Nội xâm lăng, cái xấu xa, tàn ác, giả trá của VC quá hiển nhiên, nên mọi giao du với VC, nếu không v́ một nguyên nhân chính đáng nào, chắc chắn đều bất lợi, có thể là nối giáo cho giặc, là tội ác. Điều này đă được tất cả những người Việt có tinh thần quốc gia thừa nhận từ 40, 50 năm trước. V́ vậy tại Miền Nam trước đây và hải ngoại hiện nay, ai ai cũng coi những tên "ăn cơm quốc gia thờ ma CS" c̣n tệ hơn cả hủi. Vậy mà đến giờ phút này, 34 năm sau khi CSVN thôn tính Miền Nam, 34 năm sau khi chứng kiến những tội ác của Vũ Hạnh, ông HN-T, người đă "may mắn" sinh ra và lớn lên ở Miền Nam tự do, vẫn c̣n ngây thơ cho rằng, việc các nhà văn Miền Nam giao du với các nhà văn VC nằm vùng là "thái độ văn hoá trí thức của miền Nam tự do"! Đây rơ ràng là quan niệm nguỵ ḥa của riêng ông HN-T, c̣n trí thức của Miền Nam tự do chắc chắn không khi nào có quan niệm như vậy. Việc Thế Uyên giao du với Lữ Phương hoàn toàn khác hẳn với việc HN-T giao du với NQT. Điều này rất dễ hiểu nếu HN-T nh́n vào bối cảnh chính trị, lịch sử và xă hội vào thời điểm mà Thế Uyên thực hiện sự giao du đó. HN-T phải thừa hiểu rằng trong bối cảnh chính trị khi Miền Nam Việt Nam là một quốc gia theo chính thể cộng ḥa, th́ việc Thế Uyên giao du với Lữ Phương chắc chắn sẽ cảm hóa Lữ Phương trở về với với chính nghĩa quốc gia, trở về với chính thể cộng ḥa v́ toàn bộ Miền Nam đang sinh hoạt trong tự do, dân chủ. Ngược lại, giả dụ HN-T muốn noi gương Thế Uyên, khi giao du với NQT, tên cán bộ văn hóa gộc của CS, th́ HN-T có ǵ trong tay để chiêu dụ được tên cán bộ này? Những ǵ HN-T có chỉ là đời sống lưu vong, th́ làm sao chiêu dụ được một tên cán bộ văn hóa CS gộc đang được đảng CSVN và nhà nước ân sủng.
(6) Đúng tôi không được may mắn, v́ đă sinh ra và lớn lên ở cái gọi là "miền Bắc XHCN". C̣n ông HN-T th́ may mắn được sinh ra và lớn lên trong xă hội văn hóa tự do của Miền Nam. Nhưng nhờ gia đ́nh giáo dục, nhờ được chung sống với những người lao động khốn khổ ở Miền Bắc, tôi đă tận mắt chứng kiến không biết bao nhiêu tội ác của VC, nên tôi hiểu rơ chủ nghĩa CS nó xấu xa, tội lỗi, ghê tởm đến thế nào. Nhờ vậy, tôi đă căm thù nó, và trước sau một ḷng đấu tranh chống lại nó. C̣n ông HN-T, tuy may mắn sinh ra và lớn lên trong xă hội Miền Nam tự do, nhưng có thể không được giáo huấn tinh thần quốc gia đến nơi đến chốn, có thể v́ ch́m đắm trong "tháp ngà nghệ thuật", khiến cuộc đời ông đă không ch́m nổi với vận nước đầy tang thương và khổ đau khi VC xâm lăng Miền Nam, nên ông đă không hiểu về CS, nên ông mới sai lầm cho rằng, giao du với các nhà văn VC nằm vùng là "thái độ văn hoá trí thức của miền Nam tự do"! Cũng v́ có quan niệm sai lầm như vậy, nên chỉ v́ thích mấy câu thơ của Nguyễn Quang Thiều, ông đă mất cảnh giác, vội vàng đón rước cán bộ văn hóa VC Nguyễn Quang Thiều về nhà. Hiểu như vậy, nên nếu có đi ngược lại thời gian, bảo tôi đổi cái "không may mắn" của tôi lấy "cái may mắn" của ông HN-T, để rồi giống như ông, chắc chắn tôi không đổi. Bởi chính nhờ cái "không may mắn" của tôi, tôi đă đi từ chỗ tối đến chỗ sáng. C̣n ông, v́ không biết được cái giá trị của Miền Nam tự do, ông đă đi từ chỗ sáng đến chỗ tối. Hậu quả, thay v́ sống xứng đáng với trách nhiệm của một người cầm viết được "may mắn" sinh ra và lớn lên Miền Nam Tự Do, của một người Việt tỵ nạn CS được chính phủ và nhân dân Úc chấp nhận cho định cư, ông đă xa rời cuộc đấu tranh chống cộng sản độc tài của cộng đồng người Việt. Nh́n vào những công tŕnh sáng tác của HN-T, hầu hết đều xa rời cuộc đấu tranh chung của dân tộc, là kết quả của con đường "nghệ thuật vị nghệ thuật", một con đường CS rất mong muốn để lôi kéo những người cầm bút có tài, ra khỏi cuộc đấu tranh giành tự dân chủ cho VN, đẩy họ vào cái ṿng luẩn quẩn "khóc gió, than mưa, mơ theo trăng và vơ vẩn cùng mây, để tâm hồn treo ngược ở cành cây"... Đồng ư, những công tŕnh sáng tác của ông HN-T có thể có giá trị trong mai hậu. Nhưng trong khi đất nước c̣n đang bị ch́m đắm trong sự thống trị của bạo quyền VC, tang thương tủi nhục đang bủa vây muôn vạn thân phận, tội ác của VC đang nhấn ch́m trăm ngàn mái nhà... th́ một người nghệ sĩ trí thức chân chính, có lương tâm, phải chọn con đường dấn thân "nghệ thuật vị nhân sinh", lấy tôn chỉ "văn dĩ tải đạo" làm hướng đi cho chính ḿnh, nhất là khi người nghệ sĩ đó lại là một người Việt tỵ nạn cộng sản.
(7) Viết đoạn này, ông HN-T có nhiều điểm không hợp lư. Thứ nhất, trong bài "Từ một căn pḥng giá lạnh", chính Nguyễn Quang Thiều đă tường thuật lại cuộc gặp gỡ với Tạ Duy B́nh, nhưng không hề thấy chỗ nào nói Tạ Duy B́nh "yêu thích thơ của Thiều". Căn cứ vào những tài liệu chúng tôi thu thập, Nguyễn Quang Thiều du học tại Cuba từ 1984 đến 1989. Tác phẩm thơ đầu tiên của Thiều là Ngôi Nhà Tuổi 17, được xuất bản vào năm 1990. Như vậy, khi Tạ Duy B́nh xin tỵ nạn chính trị tại Úc vào năm 1988, Thiều c̣n đang học ở Cuba. Thời đó, việc trao đổi tin tức, thơ văn qua internet chưa hề có, nên bảo TDB ở Úc đọc được thơ của Thiều qua internet, cũng không hợp lư. Vô lư thứ hai, nguyên văn đoạn Thiều mô tả cuộc gặp gỡ TDB như sau: "Năm 1992, tôi được Bộ Ngoại giao và Thương mại Úc mời sang dự hội thảo văn học. Trong chuyến đi ấy tôi có đến thủ đô Canbera. Khi tôi vừa nhận pḥng khách sạn th́ có tiếng gơ cửa. Một thanh niên người Việt rất trẻ và đẹp trai hiện ra trước mắt tôi. Anh mặc chiếc quần ḅ bị rách ở đầu gối. Tôi biết quần ḅ rách một chút và bị mài trắng ở đâu đó là mốt lúc bấy giờ chứ không phải là một cái quần cũ đến mức phải rách. Anh hỏi tôi bằng tiếng Anh: Anh là người Việt Nam phải không?” Tôi trả lời bằng tiếng Việt: Tôi là người Việt Nam”. Người thanh niên đó nói: Em là Tạ Duy B́nh”. Rồi B́nh hỏi: Anh có quen nhà thơ Hoàng Nhuận Cầm không? Có à. Em là đệ tử của anh Cầm”. Đọc đoạn văn trên ta thấy, nếu quả thật Tạ Duy B́nh yêu thích thơ của Thiều, th́ sau câu trả lời của Thiều, "Tôi là người Việt Nam", đáng lẽ B́nh phải hỏi, "Vậy anh có phải là nhà thơ Nguyễn Quang Thiều?" Nhưng như Thiều đă mô tả, B́nh không hề đả động ǵ đến "nhà thơ Nguyễn Quang Thiều". Điểm vô lư nữa, như Thiều mô tả, Thiều và TDB không hề quen biết nhau. Nếu vậy, tại sao khi nghe tiếng gơ cửa, mở cửa thấy Tạ Duy B́nh, Thiều đă biết ngay đó là "Một thanh niên trẻ người Việt"? Chẳng lẽ hai người đă hẹn ḥ trước? Nhưng những câu đối thoại sau đó cho thấy hai người không có hẹn ḥ trước. Như vậy có lẽ qua một đệ tam nhân nào đó, Thiều biết trước Tạ Duy B́nh sẽ đến gặp ông tại khách sạn. Điểm vô lư thứ ba là nếu đúng như Thiều đă nói ông và TDB không hề quen biết nhau, th́ sau câu hỏi bằng tiếng Anh của TDB, Anh là người Việt Nam phải không?” và câu trả lời bằng tiếng Việt của Thiều, Tôi là người Việt Nam”, đáng lẽ câu nói kế tiếp của TDB phải là, "Em cũng là người Việt Nam!" th́ mới hợp lư. Đàng này, Tạ Duy B́nh lại nói, "Em là Tạ Duy B́nh". Đọc đoạn tường thuật cuả Thiều, người đọc có cảm tưởng, không biết có phải ông NQT đang trao đổi mật khẩu? Trên phương diện văn phạm Việt Nam, câu trả lời của TDB càng không hợp lư v́ thông thường, người Việt khi tự giới thiệu, ít ai nói cả họ lẫn tên. Trong bối cảnh đó mà nói như vậy, phải chăng TDB muốn xác định ḿnh là nhân vật Thiều đang t́m gặp? Nếu vậy, lư do nào khiến TDB muốn xác định điều đó? Điểm quan trọng nữa, 4 năm trước, Tạ Duy B́nh là diễn viên kịch câm được VC cho sang Úc dự đại hội những người viết kịch trẻ, rồi Tạ Duy B́nh đă xin tỵ nạn chính trị ở lại Úc. Khi ấy CSVN phản đối kịch liệt nên chính phủ Úc từ chối. Sau đó v́ tin tưởng Tạ Duy B́nh thực sự có ư định xin tỵ nạn chính trị, CĐNVTD đă hậu thuẫn nên đơn xin tỵ nạn của B́nh được Úc chấp thuận. Thời đó tại VN, nhất là tại Hà Nội, giới văn nghệ sĩ bàn tán xôn xao về Tạ Duy B́nh. Trong hoàn cảnh đó, B́nh là người tỵ nạn chính trị, th́ trên quan điểm lập trường chính trị lẫn an ninh cá nhân, chắc chắn B́nh không thể nào một ḿnh đến gặp Nguyễn Quang Thiều, một cán bộ văn hóa ưu tú của CS (có ưu tú th́ mới được VC cho xuất ngoại), mà TDB từng sống trong chế độ CS đă hiểu rất rơ, loại cán bộ văn hóa "hồng hơn chuyên", nguy hiểm đến thế nào. Hơn nữa, dù cho có gặp th́ ngay phút đầu tiên, không khi nào TDB dại dột xưng tên thật của ḿnh là "Tạ Duy B́nh", một cái tên được những cán bộ văn hóa VC như Nguyễn Quang Thiều coi là phản bội đảng và nhà nước VC. Như vậy, cho dù B́nh có yêu thích thơ của Thiều mấy đi nữa, th́ cũng không hề có chuyện TDB một ḿnh đến gặp NQT. Lạ lùng hơn nữa, B́nh c̣n dám mời Thiều về nhà của ḿnh "nói chuyện cho vui". Đó là những điều vô lư về phía TDB. C̣n về phía Nguyễn Quang Thiều, nếu quả thực ông chỉ là một nhà văn thuần tuư được ân sủng của VC cho đi dự hội nghị tại Úc, th́ khi thấy TDB xuất hiện trước cửa và xưng tên xưng tuổi, chắc chắn ông phải giật ḿnh không dám tiếp đón, chứ đừng nói đến chuyện theo TDB về nhà ăn ngủ suốt đêm. C̣n trong trường hợp NQT có sứ mạng gieo rắc "hạt giống đỏ" tại hải ngoại, th́ Thiều cũng phải t́m cách né tránh TDB, một khi TDB thực sự là người ly khai CS (trừ khi NQT được lệnh của đảng, gặp gỡ TDB th́ không nói).
Điểm không hợp lư nữa khi ông HN-T viết, "Kịch tác gia Tạ Duy B́nh lúc ấy đang sống tại Canberra, đọc báo thấy có Nguyễn Quang Thiều đến Canberra; v́ yêu thích thơ của Thiều, nên B́nh đă nhờ Bộ Ngoại Giao Úc giúp anh liên lạc với nhà thơ". Như mọi người đă biết, TDB lúc đó mới tỵ nạn chính trị tại Úc được có 4 năm. Việc tỵ nạn chính trị của TDB đă khiến CSVN phản đối kịch liệt và chính phủ Úc cũng rất ngần ngại. Riêng NQ Thiều th́ được Bộ Ngoại Giao Úc mời trong tư cách là một nhà văn CS Hà Nội, có lập trường chính trị đối nghịch với TDB, một người đă từ bỏ CS. Như vậy không khi nào Bộ Ngoại Giao Úc dám tiết lộ chỗ ở của Thiều cho TDB. Chính trong bài viết, NQT cũng đă nói rơ, Ông Neil Menton, Vụ trưởng Vụ Quan hệ Văn hóa Quốc tế, BNG và Thương mại Úc, cũng "tỏ vẻ lo ngại" về quyết định của Thiều khi đến nhà HN-T. Với HN-T mà BNG c̣n lo ngại như vậy, thử hỏi làm sao BNG có thể tin tưởng cho TDB biết chỗ ở của Thiều? Nhất là khi đến nhà ở với HN-T là quyết định của NQT, BNG Úc c̣n lo ngại, th́ việc chỉ chỗ cho TDB đến chỗ ở của Thiều ngay khi Thiều tới Canberra, hoàn toàn là trách nhiệm của BNG Úc th́ BNG Úc c̣n lo ngại đến đâu. Như vậy phải chăng, một ai đó trong BNG Úc, với CSVN, NQT, Tạ Duy B́nh và HN-T đă có một sự thoả thuận ngầm nào đó, nên dẫn đến những cuộc gặp gỡ tưởng chừng như vô lư mà thực sự lại có lư? Nếu phải, th́ sự thỏa thuận ngấm ngầm đó là ǵ? Chúng tôi xin dành câu trả lời cho quư độc giả.
(8) Việc ông HN-T thích thơ văn của NQT rồi giao du với NQT hay các nhà văn, nhà thơ, họa sĩ VN là việc riêng của ông HN-T những cũng là việc mọi người có quyền quan tâm nếu những nhà văn, nhà thơ đó là cán bộ văn hóa của VC. Chúng tôi tôn trọng quyền tự do cá nhân của ông HN-T, nhưng một người Việt tỵ nạn cộng sản chân chính, có trách nhiệm và có lương tâm, th́ thích thơ văn họa nhạc của thi sĩ, văn sĩ, hoạ sĩ, nhạc sĩ VC không nhất thiết phải giao tiếp với cán bộ văn hóa VC. Nếu quư vị v́ ngây thơ không biết đó là cán bộ văn hóa VC nên giao tiếp hay cộng tác với họ, th́ người thân, bằng hữu và cộng đồng có bổn phận báo cho qúy vị biết. Cụ thể, nếu chúng tôi có được những bằng cớ, chứng tỏ Nguyễn Quang Thiều là một đảng viên CS, một cán bộ văn hóa của VC, dùng văn thơ làm nhịp cầu để móc nối, tuyên truyền, tẩy năo, gieo "hạt giống đỏ" tại hải ngoại, th́ chúng tôi cũng như ông, có quyền tự do nêu lên những thắc mắc của ḿnh, bầy tỏ trong ôn ḥa sự phản đối của ḿnh, nhất là khi ông HN-T là người của công chúng, và hơn nữa ông c̣n là một người Việt tỵ nạn cộng sản. Nhân đây, chúng tôi cũng một lần nữa khẳng định quan điểm của chúng tôi. Cộng đồng người Việt tại Úc là một cộng đồng yêu tự do, trong đó hầu hết là những người Việt tỵ nạn cộng sản, nên chắc chắn không ưa ǵ chủ nghĩa CS. Bản chất cuả xă hội Úc cũng là xiển dương những giá trị về dân chủ và nhân quyền, chống lại những chế độ độc tài, chà đạp nhân quyền. Việc Úc bang giao với VN là nhằm phụng sự quyền lợi chính đáng của 2 quốc gia, nhưng điều đó không có nghĩa để cho những cá nhân, bao gồm cả các chính trị gia cơ hội người Úc, lợi dụng, thao túng, ảnh hưởng đến uy tín của Úc cũng như những giá trị tinh thần mà dân tộc Úc đă thiết lập. V́ vậy, việc dùng văn hoá nghệ thuật làm b́nh phong, để giao lưu móc nối với cán bộ văn hóa VC, gây xáo trộn tiến tŕnh định cư và hội nhập của người Úc gốc Việt, là bất hợp pháp. Trong tinh thần thượng tôn pháp luật, chúng tôi có bổn phận báo cáo với các cơ quan hữu trách của Úc về những việc làm mà chúng tôi cho là bất hợp pháp. Tất nhiên, sự nhận xét của chúng tôi có thể đúng, có thể sai, nhưng bảo đảm, chúng tôi luôn luôn làm việc này một cách khách quan vô tư, quang minh chính đại, sẵn sàng chịu trách nhiệm trước luật pháp; và tuyệt đối chúng tôi không bao giờ ném đá giấu tay, hay gửi thư nặc danh.
(9) Ông HN-T viết ông "giao du với rất nhiều những nhà văn, nhà thơ, hoạ sĩ cách tân ở Việt Nam hôm nay" vậy mà ông viết: "Chuyện tṛ với họ, tôi chưa từng nghe họ ca tụng CSVN một chút nào. Ngược lại, tôi thường nghe họ than van về sự mất tự do trong sáng tạo nghệ thuật, về những sai lầm tệ hại của Đảng và Nhà nước CSVN". Nếu những điều ông HN-T viết là đúng sự thật, th́ nó vô lư ở chỗ, tại sao tất cả những nhà văn nhà thơ lại nói hệt như nhau? Đáng lẽ khi thấy tất cả cùng một luận điệu, ông HN-T phải đủ sáng suốt nghi ngờ họ mới phải. Chẳng lẽ VC nó ngu sao mà nó cho cán bộ văn hóa xuất ngoại để rồi hết người này đến người khác hễ gặp ông HN-T là than văn chửi bới chế độ? Thứ hai, cũng có thể tất cả những người đó đều thương ông HN-T, muốn giúp ông HN-T nh́n rơ bộ mặt thật CS, đừng có dại dột tin CS? Thứ ba, cũng có thể những người đó dùng lời lẽ phản kháng, đối nghịch để thăm ḍ thái độ của ông HN-T đối với đảng và nhà nước VC. Thứ tư, cũng có thể qua những lời than van đồng nhất dưới sự chỉ đạo của VC, họ cố t́nh tạo cho ông HN-T có một ảo tưởng sai lầm, tất cả văn nghệ sĩ ở VN hôm nay đều bất măn chế độ. Một khi có ảo tưởng này, không sớm th́ muộn, ông HN-T sẽ truyền bá cái ảo tưởng sai lầm đó cho người Việt ở Úc. Mà trong bất kỳ cuộc đấu tranh nào với VC, nếu chúng ta có ảo tưởng sai lầm về VC, chúng ta sẽ dễ dàng thất bại.
(10) Đồng ư, trong một xă hội tự do dân chủ, việc đánh giá một tác phẩm nghệ thuật qua lư lịch của tác giả là điều không nên. Nhưng khi đất nước có chiến tranh, kẻ thù th́ trà trộn, núp bóng văn hoá nghệ thuật để tấn công chúng ta, th́ việc căn cứ vào lư lịch của tác giả để thẩm định giá trị của tác phẩm là điều rất cần làm, bằng không, chúng ta sẽ rơi vào bẫy của VC. Trong hoàn cảnh VC xâm lăng Miền Nam trước đây, hay trong bối cảnh VC dùng Nghị Quyết 36 tấn công cộng đồng người Việt tỵ nạn CS hiện nay, quan điểm, lập trường chính trị của tác giả cũng giúp cho chúng ta nh́n rơ dụng ư của tác giả gói ghém trong tác phẩm nghệ thuật có độc hại hay không. Thí dụ, một nhà sư đức hạnh, giầu ḷng từ bi, sáng tác một bức tượng có giá trị nghệ thuật về Phật Bà Quan Âm, sẽ đánh thức Đức Tin và ḷng bác ái của hàng triệu tín đồ. Trái lại, một nghệ sĩ VC được lệnh sáng tác một bức tượng có giá trị nghệ thuật tương tự, th́ rơ ràng nó chỉ đánh lừa Phật tử, che giấu bản chất vô thần của VC. Cũng như việc quyên góp giúp đỡ nạn nhân thiên tai tại VN, nếu những người đức cao vọng trọng đứng ra tổ chức, đông đảo người Việt hải ngoại sẽ hưởng ứng. C̣n nếu mấy tên VC nằm vùng nhảy ra quyên góp, hầu hết đồng bào sẽ tẩy chay.
(11) Ông HN-T chỉ nói đúng có một khía cạnh, nhưng ông quên mất một điểm quan trọng hơn, những thơ nhạc đó được lưu hành tại Miền Nam tự do đều là những thơ nhạc được những tác giả đó sáng tác trước khi họ theo VC. Những bài thơ, bản nhạc đó được sáng tác để ca ngợi t́nh yêu và ḷng yêu nước của tác giả, khi các tác giả đó chưa thực sự bị nhuộm đỏ, chưa hề có dụng ư đánh phá tinh thần quốc gia, làm lợi cho VC. Bằng chứng là sau khi theo VC, những tác giả này cũng sáng tác thơ nhạc, nhưng không có bài thơ hay bản nhạc nào của họ được chính thức phổ biến tại Miền Nam hay đưa vào chương tŕnh giảng dậy văn học. Không hiểu rơ điểm quan trọng này sẽ là điều vô cùng nguy hiểm, dễ khiến chúng ta vô t́nh tiếp tay VC đánh phá chính chúng ta. Cụ thể như việc một tờ báo Việt ngữ tại Úc trước đây đă đăng truyện ngắn "Mùa Hoa Cải Bên Sông" của Nguyễn Quang Thiều, mặc dù truyện ngắn đó được NQT sáng tác chính là nhằm bôi nhọ lập trường đấu tranh chống cộng của cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản hải ngoại. Điểm cần lưu ư ở đây, truyện ngắn "Mùa Hoa Cải Bên Sông" được NQT sáng tác vào năm 1987, lấy bối cảnh mùa hè của 12 năm trước (tức sau tháng 4 năm 1975), và được tờ báo tiếng Việt ở Úc đăng không lâu sau khi NQT đến Úc vào năm 1992 và được HN-T đón từ phi trường Sydney về nhà.(?!) Tóm lại, chúng ta phải thấy, việc VC căn cứ vào lư lịch để đánh giá một tác phẩm nghệ thuật, là việc hoàn toàn bất công, v́ chúng làm việc đó để thực hiện nguyên tắc "hồng hơn chuyên" nhằm bảo vệ cho chế độ thối nát, tàn ác và bất lương của chúng. C̣n Miền Nam tự do, biết gạn đục khơi trong, chọn lọc những tác phẩm văn hóa nghệ thuật có giá trị, là việc hoàn toàn công bằng, v́ chúng ta làm việc đó để bảo vệ những giá trị văn hóa, tinh thần, quyền lợi của quốc gia dân tộc.
(12) Đoạn này ông HN-T đă quá cường điệu đến độ mâu thuẫn với lời nói của Elias Canetti được ông trích dẫn ở đầu bài. Sự cường điệu này dễ dẫn đến ảo tưởng, khinh địch, mở đường cho kẻ thù chinh phục. Theo quy luật tự nhiên, tâm sinh lư của mỗi người, dù là trí thức đă trưởng thành, không bao giờ là một trạng thái bất biến, mà là một trạng thái động, luôn luôn bị ảnh hưởng bởi ngoại cảnh. Trong số đó, giáo dục, văn hóa, nghệ thuật, mối quan hệ bằng hữu... là những điều rất dễ ảnh hưởng đến ư chí, lập trường của con người. Trong lịch sử chiến tranh quốc cộng, có không thiếu "những văn nghệ sĩ trí thức đă trưởng thành" bị VC tuyên truyền, lôi kéo, sa vào đường tội lỗi; hoặc ngược lại, được chính nghĩa quốc gia cảm hóa, thoát khỏi bờ mê bến lú của chủ nghĩa CS. C̣n về tù cải tạo, qua các hồi kư, trong đó có hồi kư "Tôi Phải Sống" của LM Nguyễn Hữu Lễ, chúng ta thấy, trong những trại tù cải tạo vẫn có những người tù bị CS mua chuộc, làm điều tệ hại. Thừa nhận thực tế này không phải để chúng ta coi thường ư chí của người Miền Nam tự do, mà giúp chúng ta luôn luôn cảnh giác trong mối quan hệ bạn thù, nhất là khi quan hệ với những người VC, để khỏi bị VC mua chuộc, dụ dỗ. V́ vậy, việc ông HN-T khẳng định những điều trên một cách cường điệu, phải chăng ông muốn mọi người tin ông để rồi tự giải giới, tự xoá bỏ lằn ranh quốc cộng, và tự đánh mất tinh thần cảnh giác, khiến cho các luận điệu tuyên truyền, tẩy năo của VC dễ dàng thâm nhập, nhuộm đỏ? Không hiểu, việc ông HN-T khẳng định những điều trên một cách cường điệu như vậy là do ông ngây thơ, vô t́nh, hay có dụng ư?
(13) Dù là người tự do, sống trong xă hội tự do, không hẳn ông HN-T có quyền gặp gỡ bất cứ ai, nhất là khi trên trái đất này c̣n có quân khủng bố, kẻ buôn lậu bạch phiến, gián điệp, đặc công của các chế độ độc tài... Với những đối tượng này, không phải ai cũng có quyền gặp. V́ vậy, gặp ai, gặp để làm ǵ, gặp tại đâu, gặp như thế nào... cũng là những yếu tố cần phải xét tới, v́ chúng sẽ ảnh hưởng đến quyền tự do gặp gỡ của ông HN-T. Ngoài ra, một người bên cạnh bổn phận và trách nhiệm của một công dân đối với luật pháp, c̣n có bổn phận trách nhiệm luân lư, tinh thần, t́nh cảm... Có những việc, luật pháp không bắt ta làm, nhưng bổn phận luân lư, lễ giáo, tinh thần, buộc ta phải làm. V́ thế, có những việc làm không có tội trên phương diện luật pháp, nhưng có tội trên phương diện luân lư; và ngược lại. Thêm vào đó, ông HN-T là ai cũng là yếu tố quan trọng khiến ông có trách nhiệm giới hạn sự gặp gỡ của ḿnh. Nếu ông HN-T là một người Việt tỵ nạn cộng sản, lại là chủ tịch CĐNVTD, chắc chắn việc ông gặp gỡ cán bộ văn hóa VC sẽ bị cộng đồng phản đối, bất tín nhiệm. V́ thế, khi nói "Là một con người tự do, tôi có quyền gặp gỡ bất cứ ai trên trái đất này", ông HN-T đă tỏ ra vô trách nhiệm, thiếu khiêm tốn, thiếu hiểu biết đối với cuộc đấu tranh chung của toàn dân, nhất là ông lại là một nhà trí thức khoa bảng, một vị chủ bút, một nhà báo, nhà văn, nhà phê b́nh...
(14) Không hiểu ông HN-T ngây thơ không biết, hay ông cố t́nh chạy tội cho VC khi viết câu này? Thực tế, chẳng phải chỉ trong chiến tranh, mà trong suốt 34 năm qua, kể cả hiện nay, chẳng phải chỉ ở Miền Bắc mà trên toàn lănh thổ Việt Nam, cái luật lệ quá đản này vẫn hiện hữu. Cụ thể tại VN hiện nay, ngoại trừ giới chức hữu trách của chế độ, c̣n bất cứ ai muốn tiếp xúc với người nước ngoài đều phải báo cáo cho công an VC; hoặc bị VC ngầm ngấm theo dơi, bắt bớ.
(15) Ông HN-T chỉ biết nghĩ đến quyền tự do của ông mà quên mất quyền tự do của những người khác. Sống trong một xă hội tự do dân chủ, chúng ta hưởng tự do dân chủ không chưa đủ mà c̣n có bổn phận hành xử quyền tự do của ḿnh để bảo vệ tự do dân chủ, sẵn sàng lên tiếng phê phán, phản đối những kẻ lợi dụng tự do dân chủ, tiếp tay những thế lực độc tài trong đó có VC.
(16) NQT là một đảng viên CS, hoạt động trong lĩnh vực an ninh t́nh báo quốc ngoại. Ngay từ năm 1984 đă được du học tại Cuba về Anh Văn và Tây Ban Nha. Sau khi tốt nghiệp năm 1989, ông về nước hoạt động trong ngành an ninh ch́m. Chính tài liệu của tỉnh B́nh Thuận cũng ghi rơ: "Nguyễn Quang Thiều, Nhà thơ. Sinh ngày 13 tháng 3 năm 1957 tại quê gốc: xă Sơn Công, huyện ứng Ḥa, tỉnh Hà Tây. Hiện ở thị xă Hà Đông. Đảng viên Đảng Cộng sản Việt Nam. Tŕnh độ văn hóa: Đại học: Nghề chính hiện nay: biên tập báo Văn nghệ của Hội Nhà văn Việt Nam. Hội viên Hội Nhà văn Việt Nam (1991). Nguyễn Quang Thiều xuất thân trong một gia đ́nh viên chức, thuở nhỏ sống ở quê. Tốt nghiệp đại học ở Cu Ba, về nước công tác ở ngành an ninh một thời gian, hiện công tác tại Tuần báo Văn Nghệ." Trong bài viết nhan đề Nguyễn Quang Thiều rời báo Văn Nghệ: Nỗi buồn của anh kép rời sân”, của tác giả Hữu Việt, con của Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn VN, đăng trên Việt Báo (trong nước) ngày 29/9/2007, cũng ghi rơ về NQT, "Trước khi về báo Văn Nghệ, đại khái người ta chỉ biết ông [NQT] tốt nghiệp đại học ở Cuba và vào thời điểm ấy ông là một trong số hiếm hoi các nhà văn trẻ biết tiếng Anh khá. Ông làm việc ở một cơ quan quan trọng nào đó, nhưng khi ra ngoài công khai, giấy tờ chính thức của ông là cán bộ Bộ Y tế." Trong một đoạn khác, Hữu Việt cũng tiết lộ: "Đầu tiên Hội Nhà văn Việt Nam muốn xin ông về làm công tác đối ngoại cho Hội. Cha tôi khi ấy làm việc ở BCH, phụ trách tổ chức, nên là người sang Bộ Nội vụ (Bộ Công an ngày nay) làm thủ tục tiếp nhận ông." Trong tác phẩm "Chân dung và đối thoại", nhà thơ Trần đăng Khoa cũng cho biết, năm 1993, Nguyễn Quang Thiều đă cùng với Hữu Thỉnh, Lê Minh Khuê sang thăm William Joiner Center, Hoa Kỳ và ở nhà Kevin Bowen, tiếp xúc với Nguyễn Bá Chung, dọn đường cho kết hoạch đâm sau lưng cộng đồng người Việt tại Mỹ, bằng cái gọi là "chương tŕnh nghiên cứu về người Việt hải ngoại sau chiến tranh VN", do chính cán bộ văn hóa VC thực hiêän. Chuyện vô lư này đă khiến ông Nguyễn Hữu Luyện kiện trung tâm WJC, gây chấn động người Việt hải ngoại 5 năm trước. V́ vậy, việc NQT sang Úc 1992, trong tư cách là một nhà văn của Hội Nhà Văn VN được Bộ Ngoại Giao Úc mời, mặc dù ông mới là hội viên năm 1991, đă khiến chúng ta có đủ cơ sở để đặt vấn đề về chuyến đi của ông. Từ đó, việc TDB và HN-T tiếp xúc với NQT, để rồi 2 năm sau, dẫn đến vở kịch The Return , đă khiến CĐ thêm băn khoăn, lo ngại là điều chính đáng và hợp lư. Thêm vào đó, nội dung cuả vở kịch The Return hoàn toàn không thích hợp với hoàn cảnh của cộng đồng người Việt tỵ nạn CS, nhất là ngày khai mạc lại trùng với ngày 2-9, càng làm cho sự nghi ngờ của CĐ gia tăng và hợp lư. Dĩ nhiên, đài ABC, SBS hay các cơ quan công quyền của Úc cũng như các tổ chức NGO tại Úc, hậu thuẫn việc làm của TDB và HN-T, v́ họ ngây thơ cũng có, thờ ơ không quan tâm cũng có, không đủ kinh nghiệm, hiểu biết về VC cũng có, v́ quyền lợi nên sẵn sàng tung hứng với VC cũng có, mà bị VC giật dây khiến họ không hề hay biết cũng có, và nhất là họ không phải là chúng ta. Bây giờ, sau 15 năm nh́n lại, tôi thấy quả thật CĐ lúc đó đă rất sáng suốt khi nghi ngờ việc làm của TDB và HN-T. Và kết quả, như HN-T viết, "Suốt 2 tuần tŕnh diễn, phía người Việt chỉ có dăm ba người bạn và thân nhân đến xem", điều đó chứng tỏ người Việt tại Úc rất sáng suốt, đă nh́n rơ vàng thau, và đây cũng là bài học cho TDB và HN-T suy gẫm.
(17) Sự thận trọng của CĐ là cần thiết. Bởi v́ từ khi chính thức xuất hiện tại VN vào năm 1930 cho đến nay, VC luôn chủ trương "tấn công kẻ thù mọi nơi, mọi lúc, mọi mặt trận". Cuộc chiến tranh VN trước 1975, và cuộc đấu tranh của người Việt hải ngoại trong suốt 34 năm qua cũng cho thấy, chẳng nói riêng Hướng Đạo VN, mà ngay cả các tổ chức văn hóa, nghệ thuật, báo chí, truyền thanh, y tế, khoa học, từ thiện, thậm chí các hội đồng hương, đồng môn, tôn giáo,... cũng đều có sự thâm nhập của VC. V́ vậy, CĐ do các hội đoàn, đoàn thể và người Việt tỵ nạn CS bầu ra, phải có trách nhiệm luôn luôn cảnh giác để ngăn chặn kịp thời mọi sự tiêu ḷn, xâm nhập của VC. Đáng lẽ là người thường xuyên tiếp xúc với cán bộ văn hóa của VC, ông HN-T phải hiểu rơ VC, giúp CĐ đập tan những âm mưu của VC mới đúng. Đằng này, sau khi đă tiếp xúc với cán bộ văn hóa của VC, ông đă không làm ǵ để minh bạch quan điểm lập trường của ḿnh, lại c̣n đi sáng tác những vở kịch có nội dung dễ bị hiểu lầm như The Return th́ bảo sao CĐ không nghi ngờ ông?
(18) Trước những việc làm của ông, một vài người chụp cho ông cái mũ "theo cộng sản", mà thực sự ông không theo cộng sản, th́ tại sao ông phải thất vọng? C̣n nếu như đă bỏ bao nhiêu công phu, soạn thảo, dàn dựng một vở kịch như vở The Return, vậy mà CĐ ai cũng nghi ngờ, ông "giải thích cách nào cũng vô ích", đến khi tŕnh diễn "suốt 2 tuần tŕnh diễn ở Belvoir St Theatre, phía người Việt chỉ có dăm ba người bạn và thân nhân đến xem", th́ ông HN-T nên sờ gáy tự hỏi, người dân nghi ngờ ông "theo cộng sản" có hợp lư không? Nếu không th́ tại sao lại như vậy? Bảo một vài người hiểu lầm th́ c̣n chấp nhận được, đằng này cả CĐ lẫn tất cả đồng hương đều tảy chay việc làm của ông, th́ chắc chắn họ không thể nào lầm, và phần lỗi phải thuộc về ông. "Tiên trách kỷ, hậu trách nhân", ông HN-T thử tự xét xem, suốt mấy chục năm qua, ông được may mắn sinh ra và lớn lên ở Miền Nam và nước Úc tự do, nhưng ông đă làm được những ǵ để xứng đáng là một nghệ sĩ tỵ nạn CS để cộng đồng ở đây tin tưởng ông?
(19) Suốt thời gian hơn chục năm qua, chúng tôi nhận được rất nhiều tin đồn đại về ông HN-T. Tuy nhiên, chúng tôi không bao giờ tin những lời đồn đại đó. Trong quá khứ, hiện tại, và ngay cả trong tương lai, chúng tôi cũng không bao giờ xác quyết ông HN-T "theo cộng sản". Ngày nay chủ nghĩa cộng sản đang dẫy chết, khiến ngay cả những người CS với nửa thế kỷ tuổi đảng, cũng c̣n ly khai đảng CS th́ làm sao có chuyện những người sinh ra và lớn lên trong xă hội tự do dân chủ như ông HN-T lại dại dột đi "theo cộng sản". Tuy nhiên, v́ lư do này hoặc lư do khác, ông HN-T có thể có những việc làm bị nhiều người cho rằng có lợi cho CS, nên họ đă nghi ngờ ông, tảy chay ông. Có điều, nếu ông HN-T thấy việc ông làm không hề làm lợi cho CS, không hề trái với trách nhiệm của một người Việt tỵ nạn CS, không hề xấu hổ với lương tâm của một nghệ sĩ, th́ ông HN-T cứ tiếp tục làm điều ông tin tưởng là đúng. Chứ đừng v́ "một cái mũ theo cộng sản" mà kẻ ác ư đội lên đầu, mà ông đă vội vàng đ̣i "chấm dứt mọi cuộc đối thoại và tranh luận". Làm vậy, thiết nghĩ là một thái độ yếm thế.
(20) Nếu thực sự am tường các sinh hoạt của người Việt hải ngoại và hiểu rơ âm mưu gây phân hóa của VC, ông HN-T sẽ thấy hầu hết những chia rẽ, nghi ngờ, chụp mũ... giữa các hội đoàn, đoàn thể trong suốt mấy chục năm qua, đều do VC gây ra. Tuy nhiên, tất cả những chia rẽ, nghi ngờ, chụp mũ đó nếu có cũng chỉ nhất thời, và khi đứng trước kẻ thù chung VC, mọi người lại đoàn kết đấu tranh, tạo thành sức mạnh lay non dốc biển. Chiến thắng VTV-4 với hơn 50,000 lượt người Việt tham dự biểu t́nh chống VC là một bằng chứng bất khả tranh căi.
(21) Hoan nghênh thiện chí đóng góp của ông HN-T. Tuy nhiên, để CĐNVTD cũng như đồng hương tại Úc tin tưởng đón nhận sự đóng góp của ông, trước hết ông HN-T phải có một cuộc sống thẳng thắn và minh bạch của một nghệ sĩ tỵ nạn CS, cùng dấn thân trong mọi sinh hoạt đấu tranh của CĐ. Với quá khứ mấy chục năm xa lánh cuộc đấu tranh của CĐ, nay bỗng dưng ông dấn thân, chắc chắn trong 1, 2 năm đầu, sự dấn thân của ông có thể bị nghi ngờ, bị chụp mũ, cho rằng ông đang thâm nhập để đánh phá CĐ, hoặc đang chuẩn bị đóng vai tṛ đối lập cuội.... Nhưng nếu ông trước sau như một vững bước trên con đường đấu tranh cùng với CĐ, chắc chắn ông sẽ chinh phục được niềm tin và sự phán xét sáng suốt của mọi người Việt tỵ nạn CS. Chính bản thân tôi, một người sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, lại phải đội nón cối, đi dép râu, theo đoàn quân VC vô xâm lăng Miền Nam, vậy mà ngót 16, 17 năm làm báo ở Úc, tôi vẫn được đồng hương và CĐ thương mến, tin tưởng, cho dù có lúc, tôi phạm sai lầm, tôi bị nghi ngờ và bị chụp vô số nón cối lên đầu. Kinh nghiệm cho tôi thấy, dù có bị nghi ngờ và bị chụp mũ nhiều thế nào đi nữa, nếu trong ḷng quả thực không có điều trá nguỵ, lương tâm ḿnh hoàn toàn trong sáng, th́ dù ở bất cứ đâu, trong bất cứ lúc nào, tôi cũng không hề có cảm giác ngột ngạt, khó thở khi sinh hoạt trong cộng đồng người Việt tỵ nạn” như ông HN-T.
Cuối cùng, từ bài học nhà văn VC nằm vùng Vũ Hạnh, xin trích đoạn văn sau đây của tác giả Nguyễn Văn Lục, để quư độc giả, ông HN-T, và tôi, cùng nghiền ngẫm hầu rút ra bài học cho mỗi người: "Có những cái sai không sửa được nữa. Đó là trường hợp Vũ Hạnh. Ông đă ly thân” với quá khứ miền Nam mà ông thừa hưởng rất nhiều ân huệ để viết tự do”. Trên dưới gần 20 tác phẩm như Vượt thác, 1963, Mùa xuân trên đỉnh non cao, 1964, Chất ngọc, 1964, Người Việt cao quư, A Pazzi, 1964, Lửa rừng, 1972, Gái Xà Niêng, 1973.... Từ sau 1975, ông viết được ǵ? Ông tự biết lấy. Chỉ nhắn nhủ ông như lời Chúa dạy Madeleine, một người phụ nữ bất xứng mà người ta đem đến Chúa nhờ xử trí, Chúa dạy rằng: Con hăy về và đừng làm như thế nữa. Ông Vũ Hạnh hăy về với cái gốc miền Nam của ông và đừng làm như thế nữa. Cái này, tôi cũng muốn nhắn nhủ cả cái bọn c̣n đang nắm cái đuôi ve vẩy của Cộng Sản để được vinh danh: Các con đă được thừa hưởng một nền giáo dục nhân nbản, biết tôn trọng tự do tư tưởng để các con nay thành người nơi xứ người. Và như lời Chúa nhắn nhủ Madeleine, một người phụ nữ bất xứng: Ta không chấp tội các con. Nhưng hăy về, về chỗ nào cũng được: San José, Santa Anna, Munich, Paris. Con hăy về, và nhớ từ nay, đừng làm những điều bất xứng ấy nữa: Điều bất xứng ấy là Phản bội miền Nam, phản bội chính ḿnh."