Năm 1992, ông Nguyễn Quang Thiều (NQT) được chính phủ Úc mời sang dự một cuộc hội thảo văn học, trong tư cách là một nhà văn. Theo bài viết của chính NQT, nhan đề Từ một căn pḥng giá lạnh”, th́ ngay khi đặt chân tới khách sạn ở Canberra, ông đă gặp Tạ Duy B́nh (TDB), một nghệ sĩ trẻ mới từ bỏ chế độ CS để xin tỵ nạn chính trị tại Úc trước đó 4 năm. Cũng trong bài viết, ông NQT thừa nhận, vào thời điểm năm 1992 việc ông TDB từ bỏ chế độ CS là một việc trầm trọng” và đầy tai tiếng”. Vậy mà ông NQT đă vui vẻ tiếp TDB rồi theo TDB về nhà nói chuyện cho vui” và cả hai đă có một đêm không ngủ” rất tâm đầu ư hợp, mặc dù trước đó ông và TDB không hề quen biết nhau; tư tưởng và lập trường chính trị th́ trái ngược, mỗi người một chiến tuyến: TDB là người đă ly hai chủ nghĩa CS, c̣n ông là một cán bộ văn hóa ưu tú của CS được CS cho phép sang Úc! Sau khi ở Canberra một tuần, NQT bay đi Sydney và theo lời của NQT: nhà văn Hoàng Ngọc Tuấn đă ra sân bay đón tôi về nhà anh. Trước đó, tôi chưa hề gặp Hoàng Ngọc Tuấn”. Ông NQT không nói rơ v́ sao Hoàng Ngọc-Tuấn (HN-T) đón ông về nhà, nhưng qua bài viết của HN-T (xem trang 62), người đọc biết được, TDB đă giới thiệu NQT với HN-T, và v́ mê thơ của NQT nên ông HN-T đă đưa rước NQT một cách tận t́nh.
Sau chuyến đi của NQT vào năm 1992 không lâu, TDB đi về VN thường xuyên, rồi kết hôn với con gái của Nguyễn Thị Hồng Ngát, đảng viên đảng CS, tốt nghiệp đại học điện ảnh Moscow, uỷ viên BCH Hội Điện Ảnh VN, Trưởng ban lư luận phê b́nh của Hội và là cựu lănh đạo Cục Điện Ảnh Việt Nam” (theo lời của NQT). Rồi năm 1994, 2 năm sau lần gặp gỡ NQT, HN-T cùng TDB thực hiện vở kịch The Return, diễn tả câu chuyện một con người rời bỏ đất nước để ra đi tỵ nạn, cuối cùng trở về quê hương, tŕnh diễn vào ngày 2-9, trùng với ngày quốc khánh của CS; khiến CĐNVTD có lư khi cho rằng vở kịch nhằm kêu gọi đồng bào tỵ nạn trở về Việt Nam để hợp tác với CS; và tất cả đồng hương đă sáng suốt tẩy chay, khiến vở kịch tuy tŕnh diễn suốt 2 tuần lễ, nhưng theo lời thú nhận của chính HN-T, phía người Việt chỉ có dăm ba người bạn và thân nhân đến xem” (chắc là dăm ba người bạn của HN-T và TDB). Cũng trong thời gian này, một tờ báo Việt ngữ tại Úc cho đăng truyện ngắn Mùa Hoa Cải Bên Sông” của NQT, với lời giới thiệu rùm beng, một tác phẩm của nhà văn VN phản kháng đă khéo léo chống đối lại chế độ VC, trong khi thực chất nội dung của truyện, lấy bối cảnh sau 30/4/1975, để bôi nhọ lập trường dứt khoát bất hợp tác với VC của người Việt tỵ nạn CS hải ngoại.
NQT viếng thăm Úc không phải có một lần mà nhiều lần, và không chỉ gặp có TDB, HN-T, mà c̣n gặp nhiều người khác. Những chuyến đi của NQT có thể có những ảnh hưởng ch́m nổi, trực tiếp hoặc gián tiếp, tới các hoạt động của Casula Powerhouse, Arts NSW, Australia Council for the Arts,... cùng nhiều tổ chức, nhân vật Úc, Việt khác tại Úc. NQT cũng không chỉ đến Úc, mà c̣n đến nhiều quốc gia khác, trong đó có Hoa Kỳ. Ở đâu, NQT cũng âm thầm thực hiện vai tṛ một cán bộ văn hóa VC dưới cái b́nh phong một nhà văn, nhà thơ; giống như khi ở VN, vào cuối thập niên 1980, đầu thập niên 1990, NQT làm việc ở một cơ quan quan trọng nào đó, nhưng khi ra ngoài công khai, giấy tờ chính thức của ông là cán bộ Bộ Y tế (Theo bài viết Nguyễn Quang Thiều rời báo Văn Nghệ: Nỗi buồn của anh kép rời sân”, của tác giả Hữu Việt, con của Hữu Thỉnh, Chủ Tịch Hội Nhà Văn VN).
Vậy NQT là ai? Là nhà văn, nhà thơ, điều đó đă hẳn ai cũng biết. Nhưng nguy hiểm hơn, NQT c̣n là một đảng viên đảng CS, một cán bộ đặc công t́nh báo văn hóa của VC, được VC trao cho sứ mạng, ra hải ngoại, dùng văn hóa nghệ thuật làm b́nh phong, làm miếng mồi nhử; để dụ dỗ, lôi kéo những nghệ sĩ người Việt ngây thơ, những nhà văn, nhà báo bản xứ gốc phản chiến, hoặc xu thời, thiên tả, tham lợi, háo danh... để rồi lập nên những trận tuyến mới, gây phân hóa cộng đồng người Việt hải ngoại, đồng thời hậu thuẫn cho đường lối và quyền lợi của VC tại hải ngoại.
Trong chương tŕnh bàn tṛn trực tuyến” của "Tuần VN", Vietnamnet, ngày 20/4/2009 vừa qua, NQT đă giới thiệu nguyên văn: Cuộc đối thoại giữa các thế hệ là chủ đề bàn tṛn trực tuyến của chúng tôi kỷ niệm ngày lễ giải phóng miền Nam, thống nhất đất nước 30/4 năm nay. Tuần Việt Nam tổ chức bàn tṛn này như một lời tri ân nhân ngày kỷ niệm trọng đại của đất nước. Chúng ta cùng nhau nói về ḷng yêu nước này để xác lập rơ hơn những kẻ thù của dân tộc. Kẻ thù dân tộc hôm nay không phải như trong những năm tháng chiến tranh là trước mặt chúng ta là những đội quân xâm lược. Mà bây giờ, kẻ thù của dân tộc hay kẻ thù của mỗi cá nhân, của cái đẹp, của đạo đức, của sự phát triển xă hội lại nằm trong chính mỗi ngôi nhà của chúng ta, trong chính con người chúng ta, trong công sở, trong mỗi diễn đàn, trong tất cả những nụ cười, trên bàn tiệc, trong những cái bắt tay, trong mọi công việc. Và việc xác lập kẻ thù là một việc hết sức quan trọng.” Xem ra, NQT nh́n đâu cũng thấy có kẻ thù. Vậy mà NQT dám bù khú suốt đêm với TDB, một người ly khai cộng sản; và HN-T, một người tỵ nạn CS, th́ kể cũng lạ lùng???
Để hiểu rơ hơn vai tṛ nguy hiểm của NQT, chúng ta cần biết, ngồi cùng với NQT quanh bàn tṛn trực tuyến” có 2 nhân vật quan trọng. Thứ nhất là Hữu Thọ, đảng viên đảng CS, nguyên ủy viên Trung ương Đảng cộng sản Việt Nam; nguyên Tổng biên tập báo Nhân Dân; nguyên Trưởng Ban Tư tưởng Văn hoá Trung ương; Trợ lư Tổng Bí thư Tổng Bí thư Nông Đức Mạnh. Hữu Thọ là người được phóng viên, kư giả VN coi là cảnh sát báo chí”. Người thứ hai là Vơ Văn Thưởng, đảng viên đảng CS, thạc sĩ triết học, cao cấp chính trị, Bí thư thứ nhất T.Ư. Đoàn khóa VIII, đă được bầu tái giữ chức bí thư thứ nhất T.Ư. Đoàn khóa IX với số phiếu 100%!
Có tài văn thơ, lại được CS chú tâm đào tạo, nên NQT nắm vững mọi thủ đoạn tuyên truyền của VC, và tự tin vào khả năng chinh phục nhân tâm” lôi kéo người nghe đi theo đường lối, chủ trương của đảng. Trong chuyến viếng thăm Úc vào năm 1992, chính NQT cũng tự tin tuyên bố trong bài viết, Từ một căn pḥng giá lạnh”, nếu các cụ nhà ta” (ư nói các nhà lănh đạo VC) đă dùng ba tấc lưỡi mà cứu được giang san, th́ NQT cũng sẽ dùng ba tấc lưỡi để chuyển nguy thành an, nếu chẳng may ông gặp phải những người Việt quá khích ở Úc”.
Cũng trong chương tŕnh bàn tṛn trực tuyến”, NQT tỏ ra khoái trá với nghệ thuật tuyên truyền cách sơn đả ngưu” của ông. Ông nói: Trong một hội đàm quốc tế về chiến tranh, tại đó, tôi không nói về chiến tranh, chính nghĩa hay phi nghĩa, không nói về sự cao cả, không nói về ḥa b́nh. Thay vào đó, tôi đă kể một câu chuyện về một bà mẹ VN, đă gửi đứa con ra mặt trận để chống lại ngoại xâm. Đứa con hi sinh, bà mẹ gửi tiếp đứa con thứ 2. Đứa thứ 2 hi sinh, bà tiếp tục gửi đứa con thứ 3. Đứa con thứ 3 hi sinh, bà tiếp tục gửi đứa con thứ 4. Những người có mặt ở đó đă khóc và nói rằng, xin ông đừng nói tiếp nữa.” Với khả năng tuyên truyền đầy thủ đoạn và mánh mung như vậy, NQT quả thực đă xỏ mũi không biết bao nhiêu người Mỹ, Úc... đi theo CS.
Sau khi kể lại câu chuyện sặc mùi tuyên truyền về người mẹ hy sinh 4 đứa con cho VC xâm lăng Miền Nam tại "bàn tṛn trực tuyến", NQT đă ngạc nhiên không hiểu tại sao bây giờ, "người dân VN không chịu hy sinh cho đảng cho nhà nước như trước, cho dù đảng và nhà nước chỉ cần một căn nhà, một miếng đất". NQT nói: Nhưng đến bây giờ, một hiện thực mà chúng ta rất đau ḷng. Bây giờ kêu gọi họ hăy hiến dâng th́ khó quá. Một người sẵn sàng nằm ch́nh ́nh giữa một ngôi nhà trên con đường, không chịu dọn đi. Một người không sẵn sàng nhường miếng đất để làm một công tŕnh công cộng. Một người bảo đi công tác nơi này nơi nọ, th́ t́m cách chạy vạy.”
Chỉ cần đọc sơ qua vài ḍng tiểu sử của NQT, thấy vài chuyện NQT làm, nghe vài câu NQT nói... chúng ta cũng đủ ghê sợ thấy NQT quả là một cán bộ văn hóa VC vô cùng nguy hiểm. Vậy mà TDB, một nghệ sĩ ly khai chủ nghĩa CS, xin tỵ nạn chính trị tại Úc, dám một ḿnh t́m đến gặp NQT, th́ kể cũng lạ lùng??? Rồi ông HN-T, một người Việt tỵ nạn cộng sản, chỉ v́ mê thơ của NQT mà rồi dám lái xe đón rước NQT, bắt tay NQT, chuyện tṛ với NQT,... th́ cũng là chuyện khó hiểu??? Chắc chắn khi gặp TDB, HN-T, ông NQT cũng luôn luôn làm "điều vô cùng quan trọng là t́m kiếm, xác lập kẻ thù", v́ ông đă nói, kẻ thù của ông, hay nói đúng hơn là kẻ thù của đảng và nhà nước VC hôm nay, "nằm trong chính mỗi ngôi nhà của chúng ta, trong chính con người chúng ta, trong công sở, trong mỗi diễn đàn, trong tất cả những nụ cười, trên bàn tiệc, trong những cái bắt tay, trong mọi công việc".
Nhưng chuyện khó hiểu này có thể giải thích, ông HN-T không hề biết rơ về NQT!!! Bằng chứng là trên website Tiền Vệ do ông HN-T làm chủ bút, chỉ giới thiệu về NQT một cách vắn tắt: Sinh năm 1957 tại Hà Tây. Hiện sống ở Hà Đông. Nguyễn Quang Thiều là nhà thơ, nhà văn, kịch tác gia, và dịch giả, đă đoạt nhiều giải thưởng văn học ở Việt Nam”. Nhưng có đúng ông HN-T không biết về NQT, hoặc biết nhưng né tránh, không đề cập đến những chi tiết quan trọng khác về NQT??? Thôi th́ bây giờ cứ giả dụ như ông HN-T không biết rơ về mặt trái của NQT, nên tôi có bổn phận tŕnh bầy về NQT qua những chi tiết dưới đây...
Căn cứ vào tài liệu và nhân chứng, chúng tôi biết chắc chắn, NQT là đảng viên Đảng CSVN, cha là đại tá quân đội (theo lời của NQT). Năm 1975, NQT bắt đầu học đại học Hà Nội. Thời gian này, NQT chứng tỏ có năng khiếu và có lập trường CS nên được CS cho du học 5 năm tại Cuba để học tiếng Anh và Tây Ban Nha từ năm 1984 đến 1989. Sau khi tốt nghiệp, NQT về nước công tác ở ngành an ninh một thời gian” rồi được đảng cử sang làm việc tại tuần báo Văn Nghệ.
Là đảng viên hoạt động trong lĩnh vực an ninh t́nh báo đối ngoại, nên ông đă được đảng hậu thuẫn, nhận được nhiều giải thưởng văn thơ. Những giải thưởng này nhằm lót đường cho ông dễ ăn dễ nói, dễ thâm nhập, một khi ra hải ngoại công cán dưới cái lốt nhà văn, nhà thơ”. Riêng Giải thưởng truyện ngắn 1989-90 của tạp chí Văn nghệ Quân đội VC dành cho truyện ngắn Mùa hoa cải bên sông”, là do truyện có nội dung bôi nhọ cộng đồng người Việt tỵ nạn cộng sản một cách vô cùng thâm hiểm, đúng với đường lối của CSVN.
Mùa Hoa Cải Bên Sông được viết vào năm 1987, nói về một ông lăo chủ thuyền tên Lư, ngoài 60 tuổi, có người vợ chết vào muà hè cách đó 12 năm (tức hè năm 1975). V́ dân cư 2 bên bờ sông xua đuổi gia đ́nh ông như xua đuổi một thứ ma quỷ chuyên đi gieo rắc cái chết”, khiến ông phải chôn vợ dưới đáy sông, và từ đó, ông có lời nguyền, cả gia đ́nh ông, trong đó có người con gái trẻ tên Chinh, sẽ vĩnh viễn sống trên thuyền, không ai được đặt chân lên bờ, và ai lên bờ th́ trái tim người đó sẽ thành trái tim quỷ. Kết cục của lời nguyền đă khiến cả gia đ́nh ông 5 người, hai trai một gái và một con dâu, rơi vào bi kịch "tự ḿnh cầm tù ḿnh" trên thuyền, xa cách quê hương, làng xóm, thậm chí Chinh c̣n bị mù chữ v́ không được đi học. Cùng lập trường kiên quyết không lên bờ với ông Lư có Sỏi, người con trai cả tuổi ngoài 40, và vợ của Sỏi. Cả hai thuộc thế hệ trên dưới 30 tuổi vào năm 1975. C̣n Cát, người con trai thuộc thế hệ trẻ hơn, th́ coi lời nguyền của cha là một sự ngu dốt, tự ḿnh cầm tù ḿnh, nên khi vắng cha, vẫn đ̣i lên bờ. Thấy vậy, Sỏi tức giận bảo em, "Mày tưởng tên bờ là thiên đường chắc? Nhà tù đấy em ạ, gà vịt cũng c̣n bị tù nữa đấy!" Cát cũng tức giận không kém: "Nhưng chắc chắn đó cũng là cái nhà tù rộng răi hơn cái nhà tù thuyền này!" Riêng Chinh, con gái út của ông, thuộc thế hệ 1.5, năm 1975 cô mới 6, 7 tuổi, nên đă bứt phá khỏi lời nguyền của cha, lén lút lên bờ để thưởng thức vẻ đẹp của hoa cải, rồi cô đem ḷng yêu và hiến thân cho một người con trai trên bờ tên Thao, gốc bộ đội. Kết quả, cô mang thai. Khi phát hiện ra Chinh mang bầu với "người trên bờ", ông Lư nổi giận đánh đập Chinh tàn nhẫn, rồi ra lệnh nhổ neo, cho thuyền ra đi, mang theo cả gia đ́nh về phương trời vô định.
Sau khi truyện được trao giải thưởng, năm 1990, NQT được ông Hữu Thỉnh đến Bộ Nội Vụ (Bộ Công An ngày nay) đón về Hội Nhà Văn VN làm công tác đối ngoại cho Hội”. Từ đó con đường hoạn lộ và sự nghiệp của ông lên nhanh như diều. Năm 1991, NQT trở thành hội viên Hội Nhà Văn VN; năm 1992 ông được Bộ Ngoại Giao Úc mới sang trong tư cách là nhà văn, tham dự hội thảo văn học; năm 1993, ông được giải thưởng hạng A về thơ; cùng năm đó ông được đi Mỹ....
Trong bài viết nhan đề Nguyễn Quang Thiều rời báo Văn Nghệ: Nỗi buồn của anh kép rời sân” của Hữu Việt, con của Hữu Thỉnh Chủ Tịch Hội Nhà Văn VN, đăng trên Việt Báo (trong nước) ngày 29/9/2007, có những chi tiết như sau.
Năm 1990, NQT được đưa về báo Văn Nghệ - Khoảng năm 1995 làm tờ Văn Nghệ Trẻ - Năm 1996 th́ từ chức trưởng ban Văn Nghệ Trẻ, nhưng vẫn ở lại báo Văn Nghệ, đồng thời cộng tác với báo An Ninh Thế Giới số cuối tháng. Theo Hữu Ước, Tổng Biên Tập An Ninh Thế Giới, NQT là công thần” của ANTG. Công thần tới độ năm 2003, NQT không c̣n viết cho ANTG, nhưng hàng tháng, NQT vẫn được Hữu Ước "trao tiền thù lao". (?) Hữu Ước tuyên bố là khi nào ANTG cuối tháng c̣n xuất bản th́ NQT c̣n tiếp tục nhận bản quyền tác giả. (?)
Hữu Việt cũng viết, Trước khi về báo Văn Nghệ, đại khái người ta chỉ biết ông Thiều tốt nghiệp đại học ở Cuba và vào thời điểm ấy ông là một trong số hiếm hoi các nhà văn trẻ biết tiếng Anh khá. Ông làm việc ở một cơ quan quan trọng nào đó, nhưng khi ra ngoài công khai, giấy tờ chính thức của ông là cán bộ Bộ Y tế.”
Năm 1990, được lệnh của Bộ Nội Vụ (Công An), Hội Nhà Văn VN đón NQT về làm việc, năm 1991 kết nạp NQT làm hội viên, đến năm 1992, NQT được cử sang Úc. Sau đó, giới văn nghệ sĩ tại VN tin rằng, để lót đường cho NQT ra hải ngoại thực hiện sứ mạng gieo rắc hạt giống đỏ”, Hội Nhà Văn VN được lệnh chấm giải A về thơ cho tập thơ Sự mất ngủ của lửa” của NQT, mặc dù dư luận tại VN thừa nhận, NQT không có tài về thơ. Chính NQT cũng phải thú nhận, động cơ khiến ông viết tập thơ Sự mất ngủ của lửa” là v́ ông muốn viết những bài thơ không giống ai”. Ông cũng xác nhận, Năm 1993, tập thơ này được Giải thưởng Hội Nhà văn VN, nhưng đồng thời nó cũng bị một số nhà thơ - nhà phê b́nh đánh” tơi tả” nhưng ông vẫn im lặng. Có lẽ ông biết rơ tài năng thơ của ḿnh, và lư do v́ sao thơ của ông được chấm giải A. Với động cơ làm thơ không giống ai” như vậy, quả thật những bài thơ trong tập thơ giải A của NQT chẳng giống thơ cả về h́nh thức lẫn nội dung. Đơn cử một thí dụ, bài thơ Chuyển Động, với những câu thơ dài hơn cả những đoạn văn xuôi nghĩa tối hơn hũ nút:
Như một thành phố vùi trong ḷng đất tự xa xưa giờ thức dậy. Bầy ốc sên ḅ qua vườn trong ánh trăng chói gắt như nắng trời mùa hạ. Những chóp vỏ chói sáng như hạt kim cương đính trên vương miện nữ hoàng đêm dạ hội. Những tấm thân mềm ướt lướt đi trong êm ái rợn người. Đôi râu ăng - ten phóng lên bắt những âm thanh xa lạ. Ngôn ngữ bí ẩn nào đang hạnh phúc hay đau khổ gọi bầy sên.
"Ánh trăng im phắc, những ṿm cây im phắc. Bầy ốc sên ḅ qua giấc ngủ của cỏ và của những chiếc lá vàng rụng trên mặt đất. Chúng miết những tấm thân mềm qua những mảnh chai vỡ sắc lạnh. Tôi không nghe thấy tiếng chúng kêu than hay nguyền rủa điều ǵ. Chỉ cảm thấy có tiếng nước dâng lên, dâng lên măi tràn ngập cả đêm trăng."
Hiểu rơ thi tài thuộc loại con thuyền Nghệ An” của NQT, nên để tránh tai tiếng, cùng với việc chấm giải hạng A cho tập thơ của NQT, Hội Nhà Văn VN đă khôn ngoan chấm giải A đồng hạng cho tập thơ Xúc Xắc Mùa Thu” của một nhà thơ nổi tiếng có thực tài tại VN là Hoàng Nhuận Cầm, người từng đoạt giải nhất cuộc thi thơ của Báo Văn Nghệ năm 1972-73, và là con đầu ḷng của Hoàng Giác, nhạc sĩ nổi tiếng thời tiền chiến với bản nhạc Mơ Hoa, và cũng là tay đàn bầu với ngón rung, ngón luyến tuyệt hay.
Câu hỏi được đặt ra, nếu NQT có thực tài về văn th́ tại sao Hội Nhà Văn VN không chấm giải nhất cho những truyện ngắn của NQT? Trả lời câu hỏi này, ta thấy việc NQT viết truyện ngắn hay truyện dài để được chấm giải nhất là điều không dễ qua mắt giới cầm viết tại VN cũng như hải ngoại. C̣n về thơ, th́ xưa nay thơ càng tối nghĩa, càng khó hiểu bao nhiêu, mà được chấm giải nhất, th́ người đọc cũng như giới phê b́nh càng né tránh, không dám nhận xét, b́nh luận, v́ nghi ngờ ở khả năng cảm nhận của chính ḿnh. Điểm thứ hai, thơ tối nghĩa, thơ khó hiểu, th́ dễ dàng truyền bá tại hải ngoại, v́ nó không mang sắc thái chính trị một cách rơ ràng, ai muốn hiểu sao th́ hiểu. C̣n truyện, nếu viết ca ngợi đảng và nhà nước, th́ hải ngoại phản đối, giới cầm viết nằm vùng đâu có dám dịch ra tiếng Anh để truyền bá. C̣n nếu chiều ḷng người Việt hải ngoại, viết truyện chửi đảng và nhà nước th́ bao giờ VC chấp nhận cho ra hải ngoại tuyên truyền. C̣n viết truyện ẩm ương, nửa nạc nửa mỡ th́ làm sao hay được, làm sao chấm giải nhất được. Mà không có giải nhất văn chương bỏ túi th́ làm sao thuận tiện đi đây đi đó để gieo "hạt giống đỏ" dưới cái b́nh phong nhà văn, nhà thơ?
Quả nhiên, ngay sau khi Hội Nhà Văn VN trao cho NQT giải thưởng hạng A cho tập thơ Sự mất ngủ của lửa” vào năm 1993, th́ ngay sau đó, hay nói chính xác hơn, cũng cùng năm đó, Hội Nhà Văn Mỹ cũng trao giải thưởng, Writer's Association National Award năm 1993, cho tập thơ này của NQT, khi đó tập thơ đă được dịch ra tiếng Anh là The Insomnia of Fire. Nguồn tin đáng tin cậy từ VN cho biết, trước khi tập thơ của NQT được gửi tới Hội Nhà Văn VN để chấm giải, th́ tại WJC, Hoa Kỳ, đă có người lo dịch tập thơ sang tiếng Anh, để gửi cho Hội Nhà Văn Mỹ chấm giải. Và ngay lúc đó, VC đă biết tập thơ của NQT sẽ được giải thưởng ở cả 2 quốc gia, làm b́nh phong hậu thuẫn cho NQT viếng thăm WJC, Hoa Kỳ. Quả nhiên, cũng năm 1993, NQT cùng với các nhà văn, nhà thơ VC Lê Minh Khuê, Trần Đăng Khoa, và Hữu Thỉnh, Chủ tịch Hội Nhà Văn VN, lên đường sang thăm WJC. Trước đó, vào năm 1991, nhà văn VC Lê Lựu đă viếng thăm WJC. Năm 1992, Lê Lựu trở lại WJC cùng với các nhà văn VC Nguyễn Khải, Nguyễn Quang Sáng, Nguỵ Ngữ. Tất cả những chuyến viếng thăm này đều nhằm liên kết với Kevin Bowen và Nguyễn Bá Chung tại WJC, chuẩn bị cho nhát dao đâm sau lưng cộng đồng người Việt hải ngoại qua cái gọi là nghiên cứu về người Việt hải ngoại sau chiến tranh VN” do cán bộ văn hóa VC Nguyễn Huệ Chi và Hoàng Ngọc Hiến thực hiện.
Sau đó, tập thơ Những người đàn bà gánh nước sông” của NQT đă được Martha Collins dịch sang tiếng Anh, The Women Carry River Water”, với sự trợ giúp của Nguyễn Bá Chung (WJC), cũng được VC vận động, nhận được giải The National Translation Association of America, vào năm 1998. 4 năm sau, năm 2002, NQT gửi tập thơ này cho đạo diễn Úc Bruce Keller, người đă đến VN vào năm 1994, được VC khôn ngoan mời giảng dậy tại trường kịch nghệ Hà Nội và Sàig̣n trong năm 1996-97, và là người cùng với Tạ Duy B́nh, sáng lập đoàn kịch Citymoon vào năm 1996, và là bạn thân” của ông HN-T. (Việc ông Bruce Keller chơi thân với HN-T, một người tỵ nạn CS; với Tạ Duy B́nh, một người đă ly khai CS, đang tỵ nạn chính trị tại Úc; lại cùng với TDB thành lập Citymoon vào năm 1996; vậy mà Bruce Keller vẫn được VC mời giảng dậy tại Hà Nội và Sàig̣n, cho thấy VC không khảo mà xưng” bỗng dưng lậy ông tôi ở bụi này”. Quả thật ngu hết chỗ nói!!!).
Nhưng nếu chỉ nh́n thấy vai tṛ cán bộ văn hóa VC của NQT từ thời điểm 1992 th́ quả thật là thiếu sót, v́ trước đó, NQT đă xuất hiện chấm phá trong bức tranh vân cẩu của t́nh báo VC, khi VC có kế hoạch bắc những nhịp cầu đầu tiên ra hải ngoại, mà WJC là trụ cầu đầu tiên.
Năm 1989, ba nhà văn đảng viên VC là Nguyễn Quang Sáng, Nguyễn Khải và Lê Lựu, viếng thăm WJC, thực hiện sứ mạng, mời gọi và chuẩn bị cho một hội nghị nhà văn Việt Mỹ tại Hà Nội. 9 tháng sau, hội nghị được tổ chức ngày 13/6/1990 tại khu nghỉ Quảng Bá, một khu vực sang trọng và cẩn mật ít người được vào v́ trong thời gian Mỹ ném bom Miền Bắc, nơi này được bộ chính trị của VC dùng làm nơi trú ẩn. Tham dự hội nghị, về phía VN có 31 nhà văn, nhà thơ VC và khoảng vài chục đại biểu không chính thức, gồm có an ninh văn hóa của VC, những người chưa bao giờ làm thơ, viết văn. Về phía Mỹ có tác giả, phóng viên George Wilson của báo Washington Post, hai vị đồng giám đốc của WJC là Kevin Bowen và David Hunt; cùng 5 nhà văn Mỹ, trong đó có William Daniel Ehrhart, một nhà thơ Mỹ được phong tặng biệt danh the dean of Vietnam war poetry” (bậc thầy về thơ chiến tranh VN), và là thành viên của tổ chức Cựu Chiến Binh Việt Nam Phản Chiến (VVAW). Năm 1990, William Daniel Ehrhart là giáo sư thỉnh giảng (Visiting Professor) tại WJC, về chương tŕnh nghiên cứu chiến tranh cùng những hậu quả xă hội (Study of War and Social Consequences) tại Đại Học Massachusetts, Boston. Ông là nhân vật then chốt dẫn đến chương tŕnh nghiên cứu về hậu quả chiến tranh VN đối với người Việt hải ngoại, với sự tham gia của các cán bộ văn hóa VC, khiến ông Nguyễn Hữu Luyện khởi kiện WJC cách đây mấy năm.
Mới đây, trong một bài viết khá dài đăng trên The Virginia Quarterly Review nhan đề A Common Language”, William Daniel Ehrhart đă kể lại tương đối cặn kẽ hội nghị này, từ khi khai mạc tại Hà Nội, đến khi phái đoàn Mỹ đi thăm Hội Nhà Văn Hải Pḥng, Huế, rồi khoảng 10 ngày sau, th́ phái đoàn vô Nam thăm Hội Nhà Văn TP HCM”...
Điều khá hài hước là ngay dưới nhan đề của bài, ông Ehrhart viết: Writers are the engineers of the soul” General Tran Van Tra Ho Chi Minh City, June 24th, 1990. Sự thực, câu nói nhà văn, nhà giáo là kỹ sư tâm hồn” đă có từ lâu, và chẳng ai biết chính xác, tác giả của nó. Tuy nhiên, sách báo của CS xưa nay vẫn coi câu nói, Writers are the engineers of the soul” lúc là của Lennin, lúc của Stalin, nhưng chưa có ai bảo câu nói đó là của tướng Trần Văn Trà. Ehrhart là người đầu tiên ngây ngô ghi tướng Trần Văn Trà là tác giả câu nói này!!!
Theo bài viết của Ehrhart, th́ sau khi hội nghị kết thúc, phái đoàn nhà văn Mỹ ở lại Hà Nội chơi vài ngày trước khi lên một chiếc minibus đi thăm hội nhà văn Hải Pḥng cùng với Nguyễn Quang Thiều, khi đó mới 32 tuổi. Trên đường đi, Thiều kể cho các nhà văn Mỹ nghe câu chuyện về một bài thơ do ông sáng tác, nói về một người mẹ ghé thăm mộ người con chết trong chiến tranh, và cầu nguyện với thượng đế cho người con được sống lại trở về với bà. Không ngờ vong hồn của những người "đồng chí" của con bà xuất hiện, bảo bà, con bà đă chết không thể nào sống lại được, vậy bà nên quên người con đă chết để trở về nhà sống cuộc sống mới của bà. NQT cũng kể rằng, khi đọc được bài thơ này, bố của Thiều, một đại tá bộ đội đă về hưu rất tức giận hỏi Thiều th́ Thiều trả lời, Đó là tương lai, mà bố”. Bố Thiều liền thẳng tay tát vào mặt Thiều, nên Thiều bỏ nhà ra đi. Mấy năm sau, bố Thiều gọi Thiều về nhà và nói: Bố xin lỗi đă tát con. Con nói đúng. Chiến tranh đă chấm dứt, nhắc lại làm ǵ. Bố đă chiến đấu cũng chỉ v́ muốn cho con được tự do chọn lựa những ǵ con muốn làm cho tương lai”.
Hiển nhiên, bài thơ do Thiều sáng tác, nhằm phục vụ cho đường lối của đảng CS: đă đến lúc Mỹ và VC nên quên thù hận trong cuộc chiến tranh VN để cùng bắt tay xây dựng tương lai. Sự quên thù hận này rơ ràng chỉ có lợi cho VC. Riêng câu chuyện bố Thiều, một đại tá bộ đội, tát Thiều để rồi sau này lại xin lỗi Thiều, có lẽ do Thiều bịa đặt nhằm mục đích, vuốt ve tự ái của các nhà văn Mỹ, xoá đi tất cả những mặc cảm tội lỗi, mặc cảm phản bội, cùng sự ân hận nếu có trong tâm hồn của các nhà văn Mỹ, khi họ đến VN bắt tay với kẻ thù VC. Do đó, khi ghé thăm thành phố Huế, Ehrhart chỉ nhớ lại những kỷ niệm vụn vặt trong những ngày Tết Mậu Thân ông chiến đấu bên ḍng sông Hương mà không hề nhớ tới sự hy xinh của đồng đội của ông tại Huế, cũng như bất cứ điều ǵ về tội ác VC đă thảm sát mấy ngàn người dân Huế!
Có lẽ hiểu rơ bản chất của NQT là một công an văn hóa VC, có sứ mạng tuyên truyền đầu độc các nhà văn Mỹ một cách thâm độc, nên tại hội nghị, một nhà văn VN đă khéo léo viết mấy chữ tố cáo NQT là công an VC rồi kín đáo trao cho nhà văn David Hunt, đồng chủ tịch WJC. Nhà văn VN này đâu có ngờ, David Hunt đă ăn phải bả của VC từ khuya, nên ông đă trao mẩu giấy đó cho NQT!
Cách đây 2 năm, NQT cũng đă kể lại câu chuyện này trong một bài viết nhan đề, Chuyện nhà văn cựu binh Mỹ đầu tiên đến VN”. Nhưng trước khi đề cập đến câu chuyện nhà văn VN tố cáo NQT là công an VC, NQT đă khôn khéo kể về nỗi buồn của Kevin Bowen khi có nhà văn VN nghi ngờ ông là CIA. Kể như vậy, NQT đă đánh đồng sự nghi ngờ hợp lư và có thật về bản chất làm công an VC của NQT, với sự nghi ngờ vô lư, khi cho rằng Kevin Bowen là CIA. Có điều NQT tuy khôn mà không ngoan. Ông quên mất rằng, sự nghi ngờ ông Kevin Bowen là CIA, dù có, cũng là sự nghi ngờ của nhà văn VN, những người đă bị VC tuyên truyền, đầu độc, nên nh́n bất cứ người ngoại quốc nào cũng đinh ninh họ là CIA. C̣n nhà văn VN khi viết NQT là công an VC”, th́ người đó chẳng có xa lạ ǵ với NQT, ông đă biết chắc chắn điều đó, chứ không phải chỉ là sự nghi ngờ. Sự thực th́ thời đó tại VN, rất nhiều nhà văn nhà thơ biết rơ NQT là công an văn hóa VC. Đầu thập niên 1990, sự thật này c̣n bị che giấu, dù cho có nhiều người biết. Nhưng đến nay, vai tṛ của NQT đă quá rơ, nên nhiều nhà văn, nhà thơ, trong đó có Hữu Việt, con trai của Hữu Thỉnh, cũng đă viết bài, úp mở nói, NQT làm việc ở một cơ quan quan trọng nào đó, nhưng khi ra ngoài công khai, giấy tờ chính thức của ông là cán bộ Bộ Y tế". Viết như vậy th́ quá rơ ràng, NQT là không những là đảng viên đảng CS mà c̣n là nhân viên an ninh ch́m, mật vụ văn hoá của VC.
Cũng trong bài, Chuyện nhà văn cựu binh Mỹ đầu tiên đến VN”, NQT viết, Tôi nhớ năm 1990, tôi được Ban chấp hành Hội Nhà văn Việt Nam cử đi cùng đoàn nhà văn Mỹ từ Hà Nội vào thành phố Hồ Chí Minh sau hai ngày hội thảo ở Quảng Bá, Hà Nội”. Nên nhớ, vào năm 1990, NQT mới được Hữu Thỉnh đón về Hội Nhà Văn VN. Vậy mà NQT đă được Hội cử đi cùng phái đoàn nhà văn Mỹ. Không những vậy, năm 1992, NQT c̣n được cử đi Úc. Rồi năm 1993, NQT lại được cử đi WJC... Tại sao NQT lại được ưu đăi đặc biệt như vậy? Câu trả lời có thể v́ NQT là người của đảng và nói tiếng Anh giỏi. Điều này đúng, nhưng xin hỏi nhờ đâu, NQT nói tiếng Anh giỏi? Lư lịch của của NQT đă ghi rơ, v́ NQT là người của đảng nên được đảng cho xuất ngoại đi học tiếng Anh và tiếng Tây Ban Nha 5 năm tại Cuba, từ 1984 đến 1989. Sau khi tốt nghiệp, NQT về nước hoạt động trong ngành an ninh của Bộ Nội Vụ (tức Bộ Công An sau này). Năm 1990, CS giật dây cho Hữu Thỉnh, Hội Nhà Văn VN, ḅ sang Bộ Nội Vụ để lănh NQT về làm việc cho báo Văn Nghệ, mà không lâu sau, Hội lại cử NQT đi theo phái đoàn nhà văn Mỹ để móc nối, cho dù đến năm 1991, NQT mới được kết nạp vào Hội Nhà Văn. Đến năm 1992 NQT được cử đi Úc, năm 1993 được lănh giải thưởng hạng A về thơ, rồi NQT đi Mỹ, đi nhiều nơi khác trên thế giới... Đi đến đâu, NQT cũng để lại những dấu tích chứng tỏ ông là một cán bộ văn hóa của VC.
Cách đây không lâu, khi thế giới và VN xôn xao tin cán bộ VC hối lộ các quan chức Nhật $820,000 Mỹ kim, đảng CS liền giật dây NQT dựng tấm b́nh phong chống tham nhũng. NQT liền viết ngay bài, Mẹ tôi đă oà khóc”, trong đó có đoạn: Mọi suy nghĩ của bà về những cán bộ mà Cụ Hồ gọi là những đầy tớ của nhân dân” luôn luôn trong sáng và như một đức tin. Hơn nữa, trong những năm tháng trước kia đi theo cách mạng, mẹ tôi đă chứng kiến ḷng trung kiên và đạo đức trong sáng của những người cộng sản chân chính. Có những lần bầu cử, mẹ tôi cứ hỏi đi hỏi lại tôi rằng những người mẹ bầu có bị nhầm lẫn ai không? Ḷng tin mẹ tôi đă và đang bị phản bội. Mẹ tôi gọi những kẻ tham nhũng là quân cướp nước”. Có ai hay có đồng chí đảng viên nào phản biện lại mẹ tôi không?”
Trên đây chỉ là phần ngàn, phần vạn những sự thật về NQT. Nhưng như vậy cũng đủ để đi đến kết luận: NQT không phải là nhà thơ có tài. Ông chỉ là một nhà văn có tài. Trong lĩnh vực báo chí và tuyên truyền, NQT có khả năng xuyên tạc, thao túng nhân tâm. Nhưng vượt lên trên tất cả những khả năng đó, NQT là một cán bộ văn hóa VC biết tiêu ḷn, móc nối, giật dây, tạo ảo tưởng, để gieo rắc "hạt giống đỏ" tại hải ngoại, xỏ mũi những nghệ sĩ háo danh, những kẻ vô tâm vô nghĩa, nhất là những trí thức bệnh hoạn, những kẻ bất măn với VNCH khi xưa, hay với CĐ hiện nay. V́ vậy, chúng ta cần thận trọng và cảnh giác với NQT; và với những người thường xuyên gặp gỡ NQT mà chưa biết rơ về NQT, chúng ta cũng nên chân thành khuyên bảo, và nh́n kỹ những việc người đó làm.
