|
Người Ghé Thăm

SAIGON
TIMES PTY
ABN 71 088
414 b457
175 William
St,
Bankstown
NSW 2200
PO BOX 409
Bankstown
NSW 2200
Tel: (02)
9793 2557
Fax: (02)
9791 5438
Email:
info@saigontimes.com.au
Chủ Bút -
Editor
Hữu Nguyên
Mob: 0438 699
150
Phụ Tá Chủ
Bút - Assistant Editor
Phạm Thanh
Phương
Mob: 0411 638
770
Cố Vấn Luật
Pháp- Legal Advisor
Luật Sư Lê
Đ́nh Hồ
(LeDinh
Lawyers)
Tel: (02) 9708
6629
Mob: 0413 166
152
Ban Biên
Tập
Phạm Thanh
Phương
Lê Đ́nh Hồ
Hoàng Tuấn
Thùy Dzung,
Hữu Nguyên
Cộng Tác
Trường
Sơn Lê Xuân Nhị
Sầu Đông, Trần
Ngân Tiêu
Mơ Sàig̣n, Vũ
Hồ, Quốc Hải
Con Hưu, Phạm
thái Lai
Doăn B́nh, Bội
Diệp, Lê Phụng
Lẩn Thẩn Hậu
Sinh, Ái Vân
Quảng Cáo -
Advertising
LeBa Ethnic
Media
Tel: (03) 9521
3366
Fax: (03) 9521
3436
Thùy Dzung
Tel: (02) 9785
8431
Mob: 0415 260
060
ĐẠI DIỆN
CÁC TIỂU BANG:
VICTORIA
Trần Đ́nh Song
Tel: (03) 9327
7571
Fax: (02) 9827
7571
Mob: 0423 081
289
SOUTH
AUSTRALIA
Hồ văn Tuấn
Tel: (08) 8345
2007
|
Suy nghĩ về Bài trả lời phỏng vấn SGT của Ông VMC
-Hữu Nguyên-
Trong số báo trước, chúng tôi đă đăng bài ông Vơ Minh Cương trả lời phỏng vấn
báo Sàig̣n Times. Để quư độc giả có được những nhận xét trung thực và khách quan
khi đọc bài của ông VMC, chúng tôi đă đăng nguyên văn bài trả lời của ông, và
không đưa ra bất cứ nhận xét nào. Hôm nay, trong bài viết này, chúng tôi xin
tŕnh bầy những suy nghĩ về bài trả lời của ông.
Trước khi đi vào bài, chúng tôi xin chân thành cảm ơn ông VMC đă trả lời những
câu hỏi của SGT. Thái độ thẳng thắn, chấp nhận đối thoại của ông, rất hữu ích
cho truyền thông và sinh hoạt cộng đồng tại Úc. Đọc bài trả lời của ông VMC,
chúng tôi cũng rất vui mừng và tin tưởng khi ông xác nhận: “Một người khi tuyên
bố chống Cộng mà đi hợp tác với kẻ phi nhân bản (CSVN) để thủ đắc quyền lợi cho
ḿnh và gia đ́nh ḿnh th́ đó là loại “đưa người cửa trước, rước người cửa sau”.
Cam đoan, tôi và gia đ́nh tôi không bao giờ nằm trong danh sách đó. V́ đây là
loại người một mặt hai ḷng.” Ngoài ra, qua bài trả lời của ông VMC, chúng tôi
cũng biết được thêm một số sự thật quan trọng và hữu ích cho cuộc đấu tranh
chung của cộng đồng người Việt tại hải ngoại.
Nhưng bên cạnh những điểm tích cực, chúng tôi nhận thấy bài trả lời của ông VMC
đă không những không trả lời được những thắc mắc của chúng tôi, mà c̣n tạo thêm
những nghi vấn mới, đồng thời có những diễn dịch nguy hiểm và suy diễn không hợp
lư về bài viết của chúng tôi, về vai tṛ của truyền thông, và mối quan hệ cần
thiết giữa truyền thông và lănh đạo cộng đồng. V́ vậy, tạm gác tất cả những từ
ngữ đầy cảm tính cá nhân, những đ̣i hỏi không hợp t́nh hợp lư, những lư luận
quanh co (beat around the bush),? của ông VMC, chúng tôi thấy cần phải lên tiếng
tŕnh bầy lần cuối những suy nghĩ của ḿnh về những nghi vấn mới và những diễn
dịch nguy hiểm trong bài trả lời phỏng vấn của ông VMC. Để quư độc giả dễ theo
dơi, chúng tôi xin tŕnh bầy những suy nghĩ của chúng tôi lần lượt theo các phần
trong bài trả lời của ông VMC.
1. Nghề di trú và đấu tranh chống cộng
Hầu như ai cũng biết, tổng quát, dịch vụ di trú của người Việt tại Úc là lo cho
người từ VN qua Úc theo diện đoàn tụ gia đ́nh, hôn phối (Spouse Visas), tay nghề
chuyên môn (Skilled Visas), thương nghiệp (Business Visas), người chăm sóc (Carer
Visas), trẻ em mồ côi có thân nhân ở Úc (Orphan Relatives Visas), du học, du
lịch,... Tuy có nhiều loại khác nhau, nhưng nh́n chung đều qua 2 bước chính.
Bước thứ nhất, lo thủ tục để người đó được chính quyền VC cho xuất cảnh theo
luật lệ của VC. Thủ tục này được các cấp trong mạng lưới chính quyền VC, bao gồm
cả bộ công an và bộ nội vụ VC, cứu xét đơn từ, hồ sơ. Bước thứ hai, lo thủ tục
để người đó được chính quyền Úc cho nhập cảnh theo luật di trú của Úc. Thủ tục
này được Bộ Di Trú Úc, gồm Sở Di Trú Hải Ngoại ở Việt Nam và Sở Di Trú Trung
Ương tại Úc, cứu xét đơn từ, hồ sơ. Cả hai bước này đều quan trọng như nhau, và
chỉ cần một bước gặp khó khăn, là toàn bộ tiến tŕnh di trú phải đ́nh trệ.
Như vậy, nếu chủ nhân một văn pḥng di trú, chống cộng công khai và quyết liệt,
đương nhiên thân chủ của người đó sẽ gặp phải khó khăn trong việc lo thủ tục
Bước thứ nhất: xuất cảnh khỏi Việt Nam. Danh chính ngôn thuận, VC chẳng dại ǵ
tuyên bố "v́ văn pḥng di trú đó chống chúng tôi, nên chúng tôi tạo khó khăn cho
anh". Nhưng trên thực tế, VC có cả trăm phương ngàn kế khiến thân chủ của văn
pḥng di trú đó bị tŕ hoăn trong thủ tục xuất cảnh hoặc không được xuất cảnh.
Và đây chính là những thắc mắc của chúng tôi về ông VMC, một người vừa chống
cộng công khai và quyết liệt suốt hơn 20 năm qua, lại vừa làm di trú trong suốt
thời gian đó. Tuy nhiên, trong bài trả lời, ông VMC đă không hề giải đáp những
thắc mắc chính đáng của chúng tôi về Bước thứ nhất, trái lại ông chỉ tập trung
vào việc tŕnh bầy Bước thứ hai.
Ông VMC cho rằng, khi chính quyền Úc quyết định về vấn đề di trú họ hoàn toàn
không bị bất cứ một một ảnh hưởng hoặc áp lực nào khác. Chúng tôi hoàn toàn đồng
ư với ông về điểm này. Điều chúng tôi muốn nói là chính quyền Việt Cộng có thể
vươn cánh tay của họ ra tận hải ngoại để ngấm ngầm tạo áp lực với những người
vừa làm di trú vừa đấu tranh chống cộng công khai và quyết liệt. Chúng tôi không
nói VC ảnh hưởng được những quyết định của Bộ Di Trú Úc, chúng tôi muốn nói là
Việt cộng có thể bí mật thực hiện cả ngàn tṛ bẩn thỉu khiến một văn pḥng di
trú đang chống cộng, phải đóng cửa hoặc đi đến phá sản. Điều này nếu Việt cộng
muốn làm, chúng sẽ làm dễ như trở bàn tay.
Bằng chứng cho thấy tất cả những cá nhân, công ty... tại Úc, nếu chủ nhân chống
cộng một cách công khai, họ đều bị VC gây khó khăn. Cụ thể, đối với tờ SàiG̣n
Times, CS Việt Nam đă có âm mưu triệt hạ qua chiến dịch "rỉ tai" yêu cầu những
doanh nhân người Việt đừng hoặc ngưng quảng cáo trên báo SGT. Chúng tôi đă nhận
được nhiều email, thư từ, cùng những lời tâm sự qua điện thoại, hoặc qua gặp gỡ,
của những thương gia người Việt tại Úc cho biết họ muốn quảng cáo ủng hộ SGT
nhưng "kẹt". Có những công ty đă kư giao kèo quảng cáo nguyên năm, nhưng chỉ
được vài tuần, đă gọi điện thoại xin ngưng đăng. Khi đ̣i ngưng quảng cáo, có
người chỉ cho biết "lư do khó nói", mong chúng tôi thông cảm. Cũng có người thân
t́nh nói thật lư do v́ sao phải ngưng quảng cáo, và sẵn sàng trả đầy đủ tiền
quảng cáo nguyên năm cho chúng tôi. Có những công ty sau khi ngưng đăng quảng
cáo trên Sàig̣n Times ít lâu, chúng tôi thấy họ khai trương chi nhánh tại Sàig̣n.
Cách đây mấy năm, có vị thương gia ở Melbourne lên Sydney chơi, trong t́nh thân
gia đ́nh, cho chúng tôi biết, trước đây ông từng quảng cáo ủng hộ SGT. Nhưng sau
lần về VN, bị VC "nói nhỏ" không được quảng cáo trên tờ báo SGT "phản động", nên
ông phải ngưng.
Nhưng bàn tay lông lá của VC không phải chỉ có ở VN mà c̣n có ngay cả ở Úc. Bằng
chứng là trong suốt nhiều năm qua, mỗi khi có một quảng cáo mới xuất hiện trên
báo SGT, lập tức ngay sau đó, có những ông A, bà B, chị C, đóng giả khách hàng,
gọi điện thoại cho ông bà chủ có quảng cáo đó. Họ đon đả hỏi thăm sức khoẻ, rồi
nói họ là khách hàng thường xuyên của ông bà chủ trong suốt thời gian qua, họ
rất thỏa măn với sản phẩm và tinh thần phục vụ của ông bà chủ. Nhưng nay họ thấy
ông bà chủ quảng cáo trên báo SGT là tờ báo VC của hồi chánh giả Hữu Nguyên, nên
họ rất bất măn, phải gọi điện thoại để báo cho ông bà biết. Họ nói, trong chỗ
thân t́nh, xin ông bà chủ đừng đăng quảng cáo trên báo SGT để họ c̣n có thể tiếp
tục ủng hộ ông bà chủ.
Hôm nay ông A gọi, ngày mai bà B gọi, ngày mốt cô C gọi, mỗi người mỗi kiểu nói
khác nhau, nhưng cùng một mục đích yêu cầu ông bà chủ ngưng đăng quảng cáo trên
báo SGT. Như vậy, làm sao ông bà chủ c̣n dám tiếp tục quảng cáo trên báo SGT. Dĩ
nhiên, không phải ông bà chủ nào cũng tin lời dèm pha của những "khách hàng dỏm"
đó. Nhưng làm ăn buôn bán, ông bà chủ đâu muốn mất ḷng ai. Rồi ông chủ đă vậy,
c̣n bà chủ nữa. Có nhiều ông bà chủ khi ngưng đăng, cũng tỏ ra ái ngại, v́ họ
hiểu khó khăn của tờ báo, hiểu được âm mưu bẩn thỉu của VC, nhưng họ không thể
nào làm khác hơn, ngoài việc xin trả x̣ng phẳng tất cả tiền quảng cáo nửa năm,
hay nguyên năm mà họ đă kư trong giao kèo, cho dù SGT mới quảng cáo được có một,
hai tuần. Dĩ nhiên, trước những đề nghị đầy ân t́nh này, chúng tôi rất cảm động,
nhưng bao giờ cũng từ chối. Một vài ngàn bạc tuy chúng tôi rất cần, nhưng tấm
ḷng của họ c̣n đáng quư gấp bội.
Cũng v́ bị VC đánh phá như vậy, nên quảng cáo trên báo SGT ngày càng ít ỏi, và
những năm gần đây, để tránh sự khó khăn cho thân chủ quảng cáo, chúng tôi hạn
chế việc lấy quảng cáo, để dành th́ giờ vào chất lượng đấu tranh và h́nh thức
của tờ báo. Không có quảng cáo, chắc chắn tờ báo sẽ gặp khó khăn gấp bội về tài
chánh. Nhưng chúng tôi nghĩ, càng khó khăn bao nhiêu, chúng tôi càng có cơ hội
để thấy được sự hy sinh của chúng tôi cho lư tưởng càng cao quư và có ư nghĩa
bấy nhiêu. Anh em chúng tôi trong ṭa soạn ai cũng sẵn sàng ăn ḿ gói quanh năm,
miễn sao có đủ tiền in báo, là bảo đảm Sàig̣n Times c̣n tiếp tục đến tay độc giả.
Đời người chỉ sống có một lần, và khi nhắm mắt xuôi tay, chẳng ai mang theo được
bất cứ thứ ǵ, th́ khi sống thực hiện được hoài băo và lư tưởng cao quư mà ḿnh
ấp ủ, cho dù chỉ là một, hai tuần, không đủ thấy hạnh phúc và măn nguyện lắm sao.
Kể lại những chuyện chúng tôi đă thực sự trải qua này để ông VMC và quư độc giả
thấy được mưu mô và thủ đoạn của VC bẩn thỉu và hạ cấp như thế nào. Và nếu VC đă
có những âm mưu và thủ đoạn bẩn thỉu, hạ cấp đối với SGT, chắc chắn chúng cũng
sẽ có những âm mưu và thủ đoạn, bẩn thỉu và hạ cấp tương tự đối với dịch vụ di
trú của ông VMC. Với SGT, chúng tôi dựa vào sự ủng hộ của độc giả để đối phó.
Với dịch vụ di trú, ông VMC làm cách nào để thân chủ của ông có thể thực hiện
được Bước thứ nhất, lo thủ tục để chính quyền VC cho xuất cảnh theo luật lệ của
VC, khi thủ tục này phải do các cấp trong mạng lưới chính quyền VC, bao gồm cả
bộ công an và bộ nội vụ VC, cứu xét đơn từ, hồ sơ? V́ thế, nếu Ông VMC cho rằng
VC không thể nào ảnh hưởng được nghiệp vụ di trú của ông th́ quả thật Ông VMC đă
quá xem thường cộng đồng người Việt tỵ nạn chính trị tại Úc này.
Trên đây là những thắc mắc của SGT cho thấy một người đă chống cộng sản công
khai và quyết liệt th́ người đó khó có thể làm dịch vụ di trú thành công. Bây
giờ, chúng ta cùng xem ông VMC đă trả lời phần này như thế nào. Trước hết, thay
v́ trả lời thẳng vào câu hỏi, ông VMC lại né tránh bằng cách đưa ra một giả
thuyết táo bạo và kỳ lạ. Ông viết: “Nếu mua chuộc th́ CSVN đặt ưu tiên hàng đầu
để chi tiền giới truyền thông v́ gây tác hại nhiều hơn chứ. Truyền thông th́ dễ
mua hơn những người làm Cộng Đồng, v́ truyền thông Việt ngữ ở hải ngoại chỉ dựa
vào ông chủ là đủ rồi, c̣n những người làm việc cho CĐ luôn luôn được soi rọi
bằng kính hiển vi qua Ban Chấp Hành CĐ, các hội đoàn, đoàn thể, đồng hương và
các cơ quan truyền thông nữa.”
Chúng tôi nghĩ, ông VMC đặt vấn đề truyền thông dễ bị VC mua hơn những người làm
Cộng Đồng là không có căn cứ. Việc làm của một cơ quan truyền thông bao giờ cũng
trên giấy trắng mực đen, hoặc qua các chương tŕnh phát thanh. Độc giả và thính
giả theo dơi thường xuyên, không dễ ǵ qua mặt. Bằng chứng là tại Úc, cho đến
nay, chưa có một cơ quan truyền thông nào thực sự công khai là bị VC mua chuộc.
Trong khi đó, những vị lănh đạo CĐ tại Úc bị VC mua chuộc th́ có nhiều, ai cũng
biết.
Điểm thứ hai, ông VMC cho rằng, VC coi việc mua chuộc giới truyền thông là ưu
tiên hàng đầu cũng sai. Thực tế, VC luôn luôn coi mua chuộc giới lănh đạo tinh
thần, lănh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, truyền thông? đều là những mục
tiêu quan trọng phải làm. Nếu VC không có đủ tiền bạc, cơ hội, nhân sự để thực
hiện các mục tiêu này cùng một lúc, th́ chúng mới có nhu cầu chọn lựa mục tiêu.
Thực tế, VC có dư tiền bạc và nhân sự để cùng song song thực hiện tất cả các mục
tiêu quan trọng này. Đây là đường lối chiến lược “kiều vận” được VC thực hiện
qua cái gọi là “chiến tranh toàn dân, toàn diện”. Bằng chứng, từ các vị lănh đạo
tinh thần tới các vị lănh đạo cộng đồng, hội đoàn, đoàn thể, cho đến các nhà
truyền thông, thậm chí ngay cả một người dân b́nh thường, một khi được VC chấp
thuận cho vô VN đều ít nhiều bị cán bộ tuyên vận của VC, hoặc trung ương, hoặc
địa phương, hoặc cả hai, hỏi thăm, làm việc, dụ dỗ mua chuộc, hăm dọa? Tuy nhiên,
tỷ lệ thành công của VC rất ít ỏi.
Ông VMC viết: [khi anh Hữu Nguyên viết bài] “phải nghiên cứu đề tài kỹ lưỡng,
tránh mạ lị. Anh thấy những tờ báo chuyên nghiệp của Úc, thường khi viết một đề
tài nào, họ phải nhờ những người chuyên môn trong lănh vực đó viết chứ không
phải ai viết cũng được”.
Chúng tôi nghĩ, khi viết điều này ông VMC không nói rơ, nhưng xét trong ngữ cảnh,
tôi hiểu, ư ông muốn nói, chúng tôi không hành nghề di trú th́ không nên viết về
nghề di trú của ông. Trả lời vấn đề này, chúng tôi xin thưa, thứ nhất, khi viết
về nghề di trú của ông VMC, chúng tôi không viết về những khía cạnh chuyên môn
của nghề di trú, mà chỉ thắc mắc, tại sao một người hành nghề di trú lại có thể
công khai chống cộng sản, hô hào lật đổ chế độ CS.
Thứ hai, để làm sáng tỏ phần nào thắc mắc, chúng tôi đă liên lạc với 5 văn pḥng
di trú của người Việt tại Úc, ba qua điện thoại và hai qua gặp gỡ trực tiếp, để
hỏi 2 câu hỏi: “1.Khi hành nghề di trú, ông chống CS công khai hay âm thầm?
2.Giả sử ông công khai hô hào lật đổ chế độ CS, th́ CS có làm ǵ ảnh hưởng đến
nghề di trú của ông không?” Mặc dù chúng tôi xác nhận, câu trả lời của họ sẽ
hoàn toàn "off the record", một văn pḥng di trú đă từ chối trả lời. C̣n lại 4
văn pḥng di trú đều trả lời 2 câu hỏi với nội dung gần như giống nhau: “1.Khi
hành nghề di trú, chúng tôi không thể nào chống CS công khai”. Hay nói như một
vị ở Cabramatta, “chúng tôi vô phương chống cộng dù là công khai hay bí mật”.
“2.Nếu chúng tôi đă làm nghề di trú, mà c̣n công khai hô hào lật đổ CS, th́ danh
chính ngôn thuận, CS sẽ không lên tiếng phản đối, nhưng chúng có trăm phương
ngàn kế khiến văn pḥng di trú của chúng tôi phải đóng cửa cấp kỳ”.
Thứ ba, thực tế cho thấy, suốt mấy chục năm qua, mỗi khi các quốc gia trên thế
giới, kể cả siêu cường Hoa Kỳ, có những tuyên bố “đụng chạm” đến VC dù là đụng
chạm nhẹ, VC cũng nhảy dựng đứng, lên tiếng cảnh cáo, đe dọa cắt đứt ngoại giao
hoặc áp dụng những biện pháp trả đũa rẻ tiền, hạ cấp và bá đạo. Như vậy, không
biết ông VMC đă có sáng kiến, bí quyết hay sức mạnh ǵ, để có thể một mặt công
khai chống cộng sản suốt mấy chục năm qua, mặt khác suốt mấy chục năm đó vẫn
điều hành văn pḥng di trú của ông? Dĩ nhiên, ông VMC không có tầm vóc của một
siêu cường để VC công khai trả đũa, nhưng nếu VC đă công khai ăn miếng trả miếng
với thế giới, th́ trước sự chống đối của ông VMC, chắc chắn ngấm ngầm, VC cũng
có “trăm phương ngàn kế khiến văn pḥng của ông phải đóng cửa”.
Cũng trong phần trả lời này, ông VMC cho biết, ông đă làm nghề di trú từ năm
1987, đến năm 1991 ông mới làm Chủ tịch CĐ. Ông viết nguyên văn, “Trước khi làm
chủ tịch CĐ, các hội đoàn, đoàn thể, đặc biệt anh em Hội Cựu Quân Nhân chất vấn
tôi rất nhiều [về dịch vụ di trú], v́ tôi làm chủ tịch CQN hai nhiệm kỳ trước
khi làm 4 nhiệm kỳ CĐ liên bang và tiểu bang.”
Câu trả lời của ông VMC cho thấy, ngay từ 20 năm trước, đă có rất nhiều hội đoàn,
đoàn thể và anh em Hội CQN thắc mắc về vấn đề này với ông VMC. Nhất là anh em
Hội Cựu Quân Nhân là những người đi sát với ông VMC, và khi đó ông VMC đang là
Chủ tịch Hội CQN 2 nhiệm kỳ, vậy mà anh em cựu QN c̣n thắc mắc với ông VMC, th́
đủ thấy việc SGT thắc mắc với ông VMC, ở thời điểm hiện nay, sau 20 năm, văn
pḥng di trú của ông VMC vẫn hoạt động, là điều hợp t́nh, hợp lư. Và thực tế,
qua phản hồi của độc giả cũng như dư luận trong cộng đồng, ai cũng thừa nhận
thắc mắc của SGT về vấn đề này là thắc mắc của chính họ trong suốt mấy chục năm
qua.
2. Nghi vấn ông VMC góp phần đưa LM Lư vô tù
Phần này, ông VMC cũng không trả lời thẳng những câu hỏi then chốt của SGT mà
chỉ loanh quanh luẩn quẩn để khỏa lấp vấn đề. Ông viết: “Tôi tin chắc chắn cha
Lư và đa số đồng bào chúng ta trong nước cũng như đồng hương hải ngoại không
muốn đào sâu thêm những chuyện “trời ơi đất hỡi” như vậy?”.
Xin hỏi, ông VMC căn cứ vào đâu để bảo những thắc mắc của SGT đối với việc ông
góp phần đưa LM Lư vô tù là chuyện “trời ơi đất hỡi”? Ông là một người CÔNG KHAI
chống CS, đ̣i lật đổ chế độ CS. Trong khi LM Lư là một người đang đấu tranh cho
tự do tôn giáo tại VN, giữa ṿng vây công an cảnh sát và luật pháp bá đạo của
VC. Vậy mà ông lại đi liên lạc, móc nối, xúi dục Ngài lập đảng chính trị đấu
tranh với VC, như vậy có phải ông đă góp phần đưa Ngài vô tù hay không? Ông có
thể v́ vô t́nh hoặc ngây thơ chính trị nên dại dột bị rơi vào cạm bẫy của VC; và
khi bị rơi vào bẫy th́ trong một số trường hợp buộc phải làm c̣ mồi hoặc tay sai
cho VC. Chắc chắn, chúng tôi không bao giờ nghĩ ông VMC là c̣ mồi hoặc tay sai
của VC. Nhưng sự vô t́nh và ngây thơ về phương diện chính trị của cá nhân ông
trong vụ việc này, có hay không, chúng tôi để cho bản thân ông và đồng hương tỵ
nạn cộng sản cùng suy ngẫm.
Thẳng thắn tŕnh bầy những thắc mắc đối với ông VMC về vấn đề này, SGT chỉ muốn
góp ư với ông và cộng đồng người Việt hải ngoại nên có những phương thức đấu
tranh phù hợp để khỏi nguy hiểm đến cuộc đấu tranh chung. Nếu những cá nhân, tổ
chức hay cộng đồng nào tại hải ngoại đă CÔNG KHAI chủ trương chống CS, đ̣i lật
đổ CS, th́ chỉ nên BÍ MẬT chứ đừng có CÔNG KHAI móc nối, giúp đỡ những nhà đấu
tranh dân chủ trong nước. V́ nếu chúng ta làm CÔNG KHAI là chúng ta đă vô t́nh
tiếp tay VC bỏ tù họ. Và như vậy, chúng ta sẽ dễ bị đồng hương cho rằng, chúng
ta là C̉ MỒI của VC.
3. Ô. VMC góp phần làm Hội Thủ Đức phân hóa?
Những lư do khiến chúng tôi nghi ngờ ông VMC góp phần đưa Hội TĐ đến phân hóa,
đă được chúng tôi tŕnh bầy rơ ràng và đầy đủ trong 2 số báo 652 (trang 10) và
654 (trang 10). Ở đây, tôi xin được nhắc lại 2 câu hỏi cụ thể nhất về 2 sự kiện
thực tế. Một, có phải ông VMC đă t́m cách thuyết phục ông Phạm Phương, Chủ tịch
Hội Cựu SVSQTB Thủ Đức - Qld đứng ra tổ chức Đại Hội Liên Hội Thủ Đức tại QLD,
trong khi ông Phạm Phương đang chuẩn bị đi dự Đại Hội Liên Hội Thủ Đức tại Perth
hay không? Hai, có phải ông VMC đă xúi ông Mai Đức Ḥa không tham dự Ngày Truyền
Thống TĐ do Tân BCH tổ chức để làm mất uy tín tân BCH Hội TĐ hay không?
Thay v́ trả lời thẳng những câu hỏi rơ ràng cụ thể trong bài viết của chúng tôi,
trong đó có 2 câu hỏi trên, ông VMC lại né tránh, rồi tự ông đưa ra một lư do
không hợp lư khác để áp đặt cho chúng tôi, rồi cũng tự trả lời một cách vô lư
cho câu hỏi không hợp lư này. Ông viết: “Tại sao anh nghĩ tôi đă góp phần đưa
Hội Thủ Đức đến phân hoá? Câu trả lời có lẽ là tôi có mặt trong hai cuộc họp bầu
phiếu của Thủ Đức. Nếu như vậy th́ Hội Y và Bác sĩ NSW th́ sao? Hội Trưng Vương
NSW th́ do ai? Và c̣n hội nào phân hai nữa trong tương lai cũng do Vơ Minh
Cương? Mặt Trận Quốc Gia Thống Nhất Giải Phóng Việt Nam biến thành hai Việt Tân
và anh liên tục “ca” hàng bao tháng trời th́ cũng do tôi nốt à, thưa anh Hữu
Nguyên?”
Đọc đoạn trên, người đọc phải ngạc nhiên trước lối suy diễn không hợp lư của ông
VMC. Trước hết, bài viết của chúng tôi không hề đề cập đến sự chia hai của bất
cứ hội đoàn, đoàn thể nào; và cũng không hề nói sự chia hai của Mặt Trận là do
ông VMC. Điểm thứ hai, ai cũng biết, mỗi hội đoàn, tổ chức bị phân hai đều có lư
do riêng và có những cá nhân chịu trách nhiệm, trong đó có những sự phân hai là
cần thiết, thể hiện sự sáng suốt của một số thành viên trong tổ chức; nhưng cũng
có những sự phân hai là hậu quả của t́nh trạng bè phái; và cũng có sự phân hai
là do sự giật dây phá hoại của VC. V́ vậy, ông VMC không thể lư luận, nếu sự
phân hóa của Hội Y sĩ và Bác sĩ NSW, của Hội Trưng Vương NSW cũng như của Việt
Tân, không do ông gây ra, th́ đương nhiên ông không chịu trách nhiệm trong việc
phân hoá của Hội Thủ Đức. Lư luận như vậy quả là không hợp lư, nếu không nói là
ấu trĩ. Lư luận kiểu đó, xin lỗi, cũng vô lư giống như một thằng ăn trộm khi bị
ra ṭa, căi cối: "Tại sao ṭa lại nghĩ tôi ăn trộm nhà ông A? Tại v́ toà thấy
tôi hai lần có mặt ở nhà ông A phải không? Nếu vậy th́ tại sao, ở những căn nhà
khác, tôi không có mặt, họ vẫn bị mất trộm? Rồi trong tương lai, những nhà ai bị
mất trộm cũng do tôi nốt à, thưa quan ṭa?!"
Ông VMC cũng đă sai lầm khi viết: “Tại sao anh “mặn mà” với Thủ Đức quá vậy? Nếu
là ṇng cốt, là “elite”mà không tự giải quyết được vấn đề th́ anh cứ lẽo đẽo đưa
lên báo anh làm ǵ cho tốn giấy mực. Anh nên để những thành viên có trách nhiệm
của Thủ Đức tự giải quyết vấn đề”.
Trước hết, ông VMC phải đồng ư, Hội Thủ Đức là sức mạnh ṇng cốt của cộng đồng.
Nay sức mạnh ṇng cốt đó có những biến động, dẫn đến nguy cơ phân hóa, th́ bất
cứ cá nhân nào trong cộng đồng cũng đều có quyền quan tâm, lo ngại, đóng góp ư
kiến. Chính bản thân chúng tôi, trong tư cách cá nhân, cũng gọi điện thoại thăm
hỏi, chia sẻ với rất nhiều anh em trong Hội Thủ Đức, trong đó có cả ông VMC. Cụ
thể, vào buổi chiều của Ngày Truyền Thống Thủ Đức, chính tôi trong tư cách cá
nhân, đă gọi cho ông VMC, năn nỉ ông tới dự. Tôi cũng tha thiết đề nghị ông VMC
thuyết phục ông Mai Đức Ḥa, ông Trương Công Hải, ông Đào Hữu Xuân, ông Văn Tấn
Thạch, ông Nguyễn Hoàng Dũng? cùng tới dự Ngày Truyền Thống. Tôi nói với ông
VMC, “Sự hiện diện của anh và tất cả những vị đó trong Ngày Truyền Thống, sẽ vô
cùng ư nghĩa và là yếu tố rất quan trọng để những rạn nứt trong Hội Thủ Đức có
cơ hội hàn gắn. Anh là người có khả năng, có uy tín để làm được chuyện đó. Và
nếu anh làm được, anh sẽ được anh em trong Hội Thủ Đức, dù là bên này hay bên
kia, đều quư trọng. Và từ sự quư trọng đó, anh sẽ dễ dàng giúp hai bên cùng ngồi
lại với nhau, giải quyết những tranh chấp của Hội”.
Cá nhân chúng tôi c̣n biết cố gắng làm tất cả những điều đó cho Hội Thủ Đức,
huống chi là một cơ quan ngôn luận luôn luôn đi sát với CĐ như Sàig̣n Times. Tất
nhiên, chúng tôi đồng ư với ông VMC, khi Hội Thủ Đức mới xảy ra những biến động,
trách nhiệm đầu tiên đứng ra giải quyết thuộc về quư vị lănh đạo ṇng cốt của
Hội. Nhưng khi nội vụ nổ lớn, ảnh hưởng đến cả cộng đồng, thậm chí có những cá
nhân ngang nhiên cướp diễn đàn trong ngày Đại Hội Cộng Đồng, th́ ông VMC phải
đồng ư, khi đó, tất cả mọi người đều có quyền và có bổn phận lên tiếng đóng góp.
Thành thực, chúng tôi rất ngạc nhiên, không ngờ ông VMC được sinh ra và lớn lên
trong môi trường tự do dân chủ của Miền Nam, lại được sống trong xă hội tự do
dân chủ của Úc mấy chục năm, đồng thời là một vị lănh đạo cộng đồng hàng chục
năm, và là người học hành khoa bảng tại Úc, vậy mà ông lại viết những ḍng bôi
bác đệ tứ quyền, coi sự dấn thân bền bỉ của báo chí đối với những biến động của
Thủ Đức là tṛ “lẽo đẽo đưa lên báo” và “tốn giấy mực”. Đọc những ḍng chữ bôi
bác đệ tứ quyền của ông VMC, chúng tôi thấy quả thật ông đă phản bội tất cả
những ǵ ông đă may mắn được thụ hưởng.
Ông VMC viết: “Anh cho rằng tôi thích làm “Power Broker” là sai cả lư lẫn t́nh
đấy”.
Sự thực, quan niệm ông VMC thích làm “power broker” là quan niệm chung của nhiều
người trong cộng đồng, chứ không phải của riêng chúng tôi. Và khi đưa ra quan
niệm đó, chúng tôi có đầy đủ bằng chứng. Ngay cả bà Nguyễn Thị Bạch Phượng ở xa
ông VMC cả ngàn cây số, một người phụ nữ thông minh, bén nhậy, có tiếng là nói
thật và nói thẳng, cũng đă có nhận xét ngụ ư ông VMC là người thích làm “power
broker”. Nhận xét của bà đă được báo SGT đăng trong mục Diễn Đàn trang 39, cùng
số báo đăng bài trả lời của ông VMC.
Ông VMC là một người hiểu biết, đồng thời là một nhà lănh đạo cộng đồng suốt mấy
chục năm, lại ở tuổi ngoài 60, nay nghe nhiều người có chung một nhận định về
ông, thiết tưởng ông nên lắng nghe và tự vấn. Đó là thái độ đúng đắn cần có của
một người hiểu biết, một nhà lănh đạo, một vị cao niên.
4. Đảng Thăng Tiến và Ông Vơ Minh Cương
Chúng tôi biết, ông VMC đă thuyết phục LM Lư thành lập đảng chính trị - Sau đó
đảng Thăng Tiến ra đời, LM Lư làm cố vấn. Ông VMC cũng xác nhận có một nhân vật
uy tín với ông VMC và đảng Thăng Tiến mời ông làm đại diện đảng TT tại Úc. Sau
đó, đảng Thăng Tiến ra Thông Báo trong đó nêu đích danh ông VMC là đại diện của
đảng tại Úc. Vậy mà ông VMC có thể viết “Nguồn tin tôi đại diện đảng Thăng Tiến
Úc Châu là không đúng, không biết v́ lư do ǵ mà có thông báo này”. Câu trả lời
như vậy của ông VMC có đủ để chúng ta tin hay không? Ông đă tự mâu thuẫn với
chính ông. V́ thế, khi ông VMC đưa ra câu trả lời đó trên báo SàiG̣n Times là
ông đă quá xem thường sự hiểu biết của độc giả và đồng hương Việt Nam tỵ nạn
cộng sản ở Úc.
Vào thời điểm sau khi đảng Thăng Tiến thành lập không lâu, trong một bữa ăn sau
khi họp cộng đồng, có các ông MĐH, VTT, TVT, LS VTD, NVT, NMT? và ông VMC. Khi
ông NMT thắc mắc về việc đảng TT tuyển đảng viên qua internet, chính ông VMC xác
nhận, ông là đại diện đảng Thăng Tiến tại Úc. Ai muốn vào đảng Thăng Tiến th́
gặp ông, ông sẽ đưa form cho điền. Một trong những người có mặt tại đó đă gọi
điện thoại cho SGT và viết bài tŕnh bầy về vấn đề này trên Diễn Đàn Độc Giả SGT
trong mấy số báo trước, và người đó sẵn sàng gặp ông VMC với sự hiện diện của
SGT để nhắc nhở ông VMC về chuyện này nếu ông muốn.
Tất nhiên, mọi sự nhắc nhở hay đôi co sẽ chẳng có giá trị nếu ông VMC vẫn không
thẳng thắn, thành thực thừa nhận sự thực. Trong trường hợp đó, chỉ có ṭa án,
gửi triệu hoán trạng (subpoena), yêu cầu những người hiện diện trong bữa ăn hôm
đó, phải khai tŕnh trước ṭa những sự thật họ mắt thấy tai nghe. Khi đó, trong
tư cách nhân chứng, họ sẽ phải tuyên thệ khai báo sự thật và chỉ có sự thật mà
thôi. Trong trường hợp khai gian, họ sẽ bị ghép vào tội bội thề. Có như vậy, sự
thật mới được phơi bầy, mọi chuyện mới sáng tỏ. Biết vậy, nhưng chúng tôi chẳng
bao giờ mất th́ giờ để làm chuyện này, ngoại trừ có tranh tụng pháp lư.
5. Quyết Nghị của CĐNVTD Liên Bang úc châu
Ông VMC viết: “Những ǵ liên quan đến Quyết Nghị của CĐNVTD liên bang năm 2008
th́ ông Nguyễn Thế Phong, đương nhiệm chủ tịch CĐ đă trả lời công khai và nhận
trách nhiệm, mặc dầu ông có trực tiếp soạn hay không.”
Trả lời như vậy chứng tỏ, ông VMC đă hiểu không đúng những thắc mắc của chúng
tôi. Chúng tôi biết, ông NTP và quư vị Chủ tịch các tiểu bang và lănh thổ có tên
ở cuối bản Quyết Nghị là những người chịu trách nhiệm đối với nội dung của bản
Quyết Nghị. Nhưng điều chúng tôi thắc mắc là có phải ông VMC là người soạn thảo
bản Quyết Nghị đó hay không?
Đặc biệt, trong câu ông VMC viết trên đây, ông đă vô t́nh để lộ một điểm quan
trọng: Chưa chắc ông Nguyễn Thế Phong là người TRỰC TIẾP soạn thảo bản Quyết
Nghị! Vậy người TRỰC TIẾP soạn thảo bản Quyết Nghị là ai? Ông VMC cần phải trả
lời câu hỏi này một cách trung thực, v́ vấn đề này rất nghiêm trọng đối với cộng
đồng người Việt tỵ nạn không những chỉ ở Úc mà trên toàn thế giới. Ông cần phải
cho đồng hương tỵ nạn cộng sản biết là ông có tham dự vào việc thảo luận khi
nghị quyết này được soạn thảo hay không? Nếu có, th́ ông hăy thẳng thắn cho biết
là ông có phản đối về nội dung của điều khoản đó hay không? Hay là ông đă biểu
lộ sự đồng t́nh và đồng ư thông qua điều khoản đó? Ông cũng cần phải thẳng thắn
cho đồng hương tỵ nạn cộng sản tại Úc biết là khi bản Quyết Nghị được soạn thảo
xong, ông có được đọc bản thảo trước khi Đại Hội chính thức thông qua hay không?
Nếu có, th́ ông có phản đối về điều khoản đó hay không?
Đọc câu trả lời của ông VMC, chúng tôi thắc mắc, tại sao ông VMC lại nêu vấn đề
ông NTP có TRỰC TIẾP SOẠN bản Quyết Nghị HAY KHÔNG ở đây? Nếu quả thật ông NTP
đă TRỰC TIẾP SOẠN và ông NTP nhận trách nhiệm, chắc chắn ông VMC đă không viết
như vậy. Khi viết như vậy, dĩ nhiên có nhiều khả năng, ông VMC không những biết
ông NTP KHÔNG PHẢI LÀ NGƯỜI TRỰC TIẾP soạn bản Quyết Nghị mà ông VMC c̣n biết,
người TRỰC TIẾP SOẠN bản Quyết Nghị là ai?
Nên nhớ, trong buổi gặp gỡ giữa tân BCHCĐ Liên Bang với truyền thông báo chí tại
Sydney ngay sau kỳ Đại Hội 19 tại QLD, có sự hiện diện của các ông NTP, Nguyễn
Văn Bon, VMC, Vơ Trí Dũng, Nguyễn Văn Thanh và đông đảo quư vị lănh đạo CĐ cùng
các cơ quan truyền thông tại NSW trong đó có SGT, khi chúng tôi tŕnh bầy những
thắc mắc về bản Quyết Nghị, một số vị tham dự Đại Hội đă phát biểu: Người soạn
bản Quyết Nghị là BS Bùi Trọng Cường và bản Quyết Nghị đă được thông qua khi Đại
Hội sắp bế mạc. Những người có mặt tại buổi gặp gỡ hôm đó đều nghe rơ những lời
phát biểu này, trong đó có tất cả những người tham dự Đại Hội tại QLD, bao gồm
cả ông NTP và ông VMC, nhưng không một ai lên tiếng phản đối, cho dù trong số đó
có ít nhất 2 người biết rơ ai viết bản Quyết Nghị. V́ vậy, theo chúng tôi nghĩ,
sự im lặng của những người biết rơ đó không phải là dấu hiệu đồng ư, BS BTC là
người soạn thảo bản Quyết Nghị, mà là dấu hiệu cho thấy không muốn tiết lộ tác
giả thật của bản Quyết Nghị. Như vậy, nếu NTP KHÔNG PHẢI là người TRỰC TIẾP SOẠN
bản Quyết Nghị th́ ai là người trực tiếp? Và đằng sau người trực tiếp soạn bản
Quyết Nghị, có người gián tiếp hay không? Ông có nhiệm vụ phải làm sáng tỏ điều
này cho đồng hương tỵ nạn tại Úc được rơ.
Điểm quan trọng nữa, như chúng tôi đă tŕnh bầy trong số báo trước, khi SGT thắc
mắc, Điều 1 của bản Quyết Nghị khiến người nghe hiểu lầm, cho rằng CĐNVTD có ư
ḥa hợp ḥa giải có điều kiện với VC, ông NTP đă nhanh chóng thừa nhận: V́ tŕnh
độ tiếng Việt hạn chế nên ông không nhận ra sự nguy hiểm này. Lúc đó, nghe câu
trả lời của ông NTP chúng tôi chỉ nghĩ ông NTP đề cập đến sự hạn chế tiếng Việt
của ông khi thông qua bản Quyết Nghị tại Đại Hội. Nhưng nay đọc câu trả lời của
ông VMC, nhớ lại câu trả lời của ông NTP, chúng tôi mới nhận ra, “tŕnh độ tiếng
Việt hạn chế” được ông NTP đề cập là tŕnh độ tiếng Việt của ông khi ông đọc bản
Quyết Nghị do người khác viết và gửi tới cho ông, nhiều ngày trước khi nó được
thông qua Đại Hội. Vậy người khác đó là ai? Người đó thuộc tổ chức, đoàn thể
nào? Tại sao người đó lại soạn thảo bản Quyết Nghị với gian ư ḥa hợp ḥa giải
với VC rồi gửi cho ông NTP?
Sự thẳng thắn và bén nhậy của ông NTP rơ ràng là điều rất đáng quư, và đến nay
chắc chắn ông NTP đă nhận ra chân tướng của người đó. V́ vậy, chúng tôi tha
thiết hy vọng, trong cương vị Chủ Tịch CĐ Liên Bang, cùng với cả một quá khứ đầy
hào quang và thành tích chống cộng, ông NTP sẽ có những biện pháp cần thiết để
giải quyết vấn đề này, một khi ông nhận ra âm mưu soạn thảo bản Quyết Nghị với
những điều khoản ḥa hợp ḥa giải với CS của [những] người đó.
Ông VMC viết: “Rơ ràng nhé. Chuyện rơ như ban ngày, mà anh cứ lẽo đẽo theo tôi
chất vấn hoài. Tại sao vậy? Có lẽ anh thấy tôi hiền hơn mấy ông kia thành theo
“bắt nọn”“.
Câu trả lời trên của ông VMC vừa dung tục tầm thường, vừa sai trong mối quan hệ
giữa một người lănh đạo CĐ với một người làm truyền thông. Như qúy vị đă biết,
sau khi Đại Hội CĐNVTD/UC bế mạc, đọc bản Quyết Nghị thấy có những điều khoản
nguy hiểm, chúng tôi, trong tư cách một thành viên của CĐ, đồng thời là một nhà
báo, chúng tôi thấy ḿnh có bổn phận t́m hiểu, nên đă liên lạc với nhiều người
tham dự Đại Hội, chứ không riêng ǵ ông VMC. Riêng với ông VMC, trong tư cách
một người bạn quen biết và cùng làm việc với ông từ lâu, chúng tôi đă gọi điện
thoại, lấy hẹn và đàng hoàng gặp gỡ, trao đổi với ông tại một tiệm ăn ở
Marrickville. V́ vậy, mấy chữ “anh cứ lẽo đẽo theo tôi chất vấn hoài” của ông
VMC là không đúng sự thật.
Chúng tôi cũng ngạc nhiên khi ông VMC dùng chữ “bắt nọn” ở đây. Có phải ông VMC
cho rằng chúng tôi nghi ngờ ông làm chuyện ǵ sai quấy, lén lút, nên t́m cách
“bắt nọn” ông? Nếu vậy th́ ông VMC đă nghĩ vậy chứ chúng tôi không hề nói và
cũng không hề nghĩ ông VMC lại có thể xấu xa, non nớt để có thể “bắt nọn” ông.
C̣n ông VMC bảo ông hiền nên chúng theo ông để “bắt nọn” th́ cũng không đúng.
Trong mối quan hệ giữa quư vị lănh đạo CĐ với truyền thông, chúng tôi không hề
quan tâm đến cá tính hiền dữ của mỗi người. V́ công việc chung, chúng tôi sẵn
sàng gạt bỏ những dị biệt về cá tính của mỗi người để làm việc. Trong thời gian
hơn 10 năm qua, chúng tôi đă trực tiếp gặp gỡ, hoặc tṛ chuyện qua điện thoại,
hay trao đổi, phỏng vấn qua email, với hầu hết quư vị lănh đạo cộng đồng liên
bang, tiểu bang. Ngay trong buổi gặp gỡ tân BCH liên bang, có sự hiện diện của
hầu hết quư vị lănh đạo CĐ liên bang và tiểu bang NSW, chúng tôi cũng đă thẳng
thắn và thoải mái tŕnh bầy những thắc mắc của ḿnh về nội dung bản Quyết Nghị,
về cách thức làm việc không dân chủ của BCH Cộng Đồng Liên Bang. Chính ông VMC
hiện diện trong buổi gặp gỡ đó, đương nhiên ông đă chứng kiến từ đầu đến cuối
thái độ thẳng thắn, cương nghị và thành thực của chúng tôi.
Ông VMC viết: “Tôi đi ban ngày, quang minh chính đại mà c̣n thiếu điều bị anh
bắn “xâu táo” (danh từ quân sự, chắc anh hiểu), huống chi đi đêm”
Chúng tôi rất ngạc nhiên không hiểu sao ông VMC lại viết chúng tôi bắn “xâu táo”
ông? Bắn xâu táo có nghĩa, một viên đạn bắn xuyên qua từ 2 người trở lên. Bắn
được như vậy không phải do tài nghệ của người bắn, mà do những người bị bắn cùng
một phe đảng với nhau, lại đi thành một hàng và thường là hàng dọc. Đó là nghĩa
đen. C̣n nghĩa bóng, bắn "xâu táo” là chỉ một nhóm người v́ cùng chung mục đích,
âm mưu, đường lối hoạt động? nên bị dính chùm với nhau, khi bị báo chí phanh
phui hay bị ṭa án truy tố. Nếu nghĩa đen, “bắn xâu táo” không hẳn hàm nghĩa
xấu, th́ nghĩa bóng, “bắn xâu táo” thường có ư chỉ một nhóm người có âm mưu xấu.
Bài viết của SGT chỉ đề cập đến những thắc mắc về ông VMC và nghi ngờ ông VMC là
người đă góp phần soạn thảo bản Quyết Nghị. Như vậy tại sao ông VMC lại đề cập
đến chuyện ông bị chúng tôi “bắn xâu táo” theo nghĩa bóng ở đây? Phải chăng ư
ông muốn nói, ngoài ông ra, cũng c̣n những người khác cùng phe đảng và âm mưu
với ông, nên tất cả đă bị chúng tôi “bắn xâu táo”? Nếu vậy, chính ông VMC đă vô
t́nh tự thú điều này, chứ chúng tôi không hề cáo buộc.
Cũng thưa với ông VMC, “bắn xâu táo” không phải là một danh từ như ông viết đâu.
“Bắn” là một động từ đóng vai tṛ vị ngữ trong câu. C̣n “xâu táo” là một từ kép
đóng vai tṛ trạng ngữ bổ nghĩa cho động từ “bắn”. Tôi nhớ không lầm th́ đây là
kiến thức sơ đẳng ở bậc tiểu học, đương nhiên ông VMC cũng đă học qua, nhưng có
thể v́ ông quên, hay v́ vội vă nên ông viết sai. Chúng tôi cũng mạnh dạn và
thẳng thắn thưa với ông như vậy, để trong tương lai, ông không c̣n phạm phải
thiếu sót sơ đẳng này nữa.
Ông VMC viết: “Riêng Điều 5, của Quyết Nghị, CĐ chính thức ủy thác cho tôi chịu
trách nhiệm nghiên cứu, tổ chức Nghị Hội người Việt toàn thế giới. Tôi đă nhận
và đang vận động, khi nào tiến hành CĐ sẽ thông báo.”
Sự thực, trong bản Quyết Nghị được Đại Hội CĐNVTD Úc Châu Kỳ 19 thông qua ,
chúng tôi đă không đồng ư Điều 1 (v́ có nội dụng ḥa hợp hoà giải với CS), Điều
3 & 4 (v́ yểm trợ cho người lao động VN do VC xuất cảng). Riêng Điều 5 của bản
Quyết Nghị, "Ban Chấp Hành Cộng Đồng Liên Bang nhiệm kỳ 2008-2010 sẽ nghiên cứu
việc tổ chức một Nghị Hội của các cộng đồng người Việt tự do trên toàn thế
giới", chúng tôi đă nhận định, thực chất của điều 5 này là tạo nên một h́nh thái
cơ chế nguy hiểm mang danh nghĩa "cộng đồng liên châu", để từng bước đưa ra các
đường lối, chính sách, ḥa hợp ḥa giải có điều kiện với VC.
Đại Hội Cộng Đồng Liên Bang Úc Châu Kỳ 19 họp 3 ngày. Vậy mà khi thông qua bản
Quyết Nghị cực kỳ quan trọng, Đại Hội lại thông qua một cách vội vă vào lúc sắp
bế mạc. Trong bản Quyết Nghị có 8 điều th́ Điều 1, đ̣i ḥa hợp ḥa giải với VC;
Điều 3 & 4, đ̣i giúp đỡ người lao động VN do VC xuất cảng. Như vậy, Điều 5, đ̣i
tổ chức “Nghị Hội của các cộng đồng người Việt tự do trên toàn thế giới" để từng
bước ḥa hợp ḥa giải với VC, giúp đỡ công nhân do VC xuất cảng, là điều không
có ǵ ngạc nhiên. Nhất là khi CĐ chính thức uỷ thác việc tổ chức Nghị Hội đó cho
ông VMC th́ chúng tôi lại càng có quyền nghi ngờ đó là một h́nh thái cơ chế nguy
hiểm để từng bước đưa ra các đường lối, chính sách, ḥa hợp ḥa giải có điều
kiện với VC. Nói cách khác, Điều 5 này hoàn toàn thống nhất và kết hợp chặt chẽ
với Điều 1 ḥa hợp ḥa giải với VC và Điều 3 & 4, làm lợi cho VC một cách có kế
hoạch và thống nhất tại hải ngoại.
Câu hỏi quan trọng nữa cần được đặt ra, việc tổ chức “Nghị Hội của các cộng đồng
người Việt tự do trên toàn thế giới" có sự nhúng tay của đảng Việt Tân hay
không? Trả lời câu hỏi này, chúng tôi xin thưa, việc tổ chức “Nghị Hội” này đă
được Đại Hội CĐNVTD Úc Châu kỳ 19 thông qua và ghi rơ trong Điều 5 của bản Quyết
Nghị. Nh́n vào những người có thẩm quyền thông qua bản Quyết Nghị đó, chúng tôi
thực sự nghi ngờ có sự lũng đoạn của đảng Việt Tân. Cụ thể, trong số các vị lănh
đạo CĐ tham dự Đại Hội, chúng tôi nghi ngờ những vị sau đây là đảng viên đảng
VT: Đoàn Công Chánh Phú Lộc (Chủ tịch Nam Úc), Lê Công (Chủ tịch Canberra), Bùi
Trọng Cường (Chủ tịch QLD), Phạm Lê Hoàng Nam (Chủ tịch Tây Úc). Chúng tôi cũng
nghi ngờ những vị sau đây có thể là đảng viên hoặc là thân hữu của VT: Nguyễn
Thế Phong (Chủ tịch Liên Bang), Nguyễn Văn Bon (Chủ tịch VIC), Lê Tấn Thiện (Chủ
tịch Bắc Úc). Ngoài ra, tại Đại Hội c̣n nhiều nhân vật khác là thân hữu hoặc là
đảng viên (có thẻ đảng hoặc không có thẻ đảng) của đảng VT. Tất nhiên, những
nghi ngờ trên đây của chúng tôi có thể đúng, có thể sai. Nếu sai, rất mong quư
vị lên tiếng để chúng tôi nhanh chóng đính chính, cho đồng hương khỏi hoang mang
là cộng đồng liên bang đang bị Việt Tân Hoá!
Như vậy, việc thông qua bản Quyết Nghị gồm Điều 1 cho phép cộng đồng ḥa hợp ḥa
giải với VC; Điều 3 & 4 giúp đỡ công nhân VC do VC xuất cảng; và Điều 5, “tổ
chức một Nghị Hội của các cộng đồng người Việt tự do trên toàn thế giới" để tạo
nên một h́nh thái cơ chế nguy hiểm ḥa hợp ḥa giải với VC và làm lợi cho VC,
chắc chắn phải có sự thao túng lũng đoạn của VT. Và cũng v́ có sự thao túng của
VT, nên bản Quyết Nghị của CĐ Úc Châu mới được thông qua với những điều khoản
hoàn toàn phản bội chính nghĩa và lập trường của người Việt tỵ nạn tại Úc cũng
như hải ngoại.
Chúng tôi cũng được biết, hiện tại đảng VT đang t́m cách móc nối mời mọc một số
nhân vật, hội đoàn, đoàn thể, tổ chức, chính đảng? có uy tín và có tên tuổi tại
hải ngoại tham gia “Nghị Hội” được dự định sẽ tổ chức vào cuối năm nay. Đảng VT
làm như vậy để tạo cho “Nghị Hội” có được một bộ mặt “dân chủ” giả tạo, đồng
thời giúp cho những cá nhân và tổ chức bù nh́n của VC có cơ hội chui luồn, thâm
nhập cộng đồng người Việt hải ngoại.Mới đây, ông Nguyễn Quang Duy (Melbourne),
người chúng tôi đoán là đảng viên Việt Tân, đă viết bài, trong đó có đoạn nguyên
văn như sau: “Sáng nay trên báo Sàig̣n Times, Úc châu, ông Vơ Minh Cương, cựu
chủ tịch Cộng Đồng Người Việt Tự Do tại Úc châu (1991-1999), xác nhận đă được
Cộng Đồng ủy thác trách nhiệm nghiên cứu, vận động và tổ chức Nghị Hội Người
Việt Ṭan Thế Giới (cho Dân Chủ tại Việt Nam). Nghị Hội sẽ được tổ chức tại Úc
châu trong thời gian tới. Người viết sẽ lănh trách nhiệm đưa tin đến bạn đọc
trong thời gian tới.”
Đọc đoạn văn trên, chúng tôi có suy nghĩ, trong khi “Nghị Hội” chưa hề họp, BTC
chưa thành h́nh, vậy xin hỏi ai là người trao cho ông Nguyễn Quang Duy, trách
nhiệm “sẽ đưa tin” về “Nghị Hội”? Tại sao ông NQD viết ông “sẽ lănh trách nhiệm
đưa tin đến bạn đọc trong thời gian tới”? Tại sao ông NQD có thể “cầm đèn chạy
trước ô tô”, biết trước “Nghị Hội” sẽ trao cho ông trách nhiệm đưa tin về “Nghị
Hội”? Hay quyết định trao cho ông NQD trách nhiệm đưa tin về “Nghị Hội” thuần
tuư là quyết định của đảng VT? Nếu vậy, rơ ràng đảng VT đă đóng một vai tṛ quan
trọng và đă có cả một chương tŕnh, một kế hoạch cụ thể về “Nghị Hội” từ cả năm
trước khi “Nghị Hội” khai mạc? Điều này nói lên điều ǵ, xin để dành sự kết luận
cho quư vị lănh đạo tinh thần, cộng đồng, các đảng phái, tổ chức chính trị, cũng
như các hội đoàn, đoàn thể và đồng hương. Tuy nhiên, xin quư vị thận trọng, nếu
không, quư vị sẽ trở thành những kẻ tiếp tay cộng sản, phản bội chính nghĩa tỵ
nạn.
Điểm quan trọng nữa, Điều 5 của bản Quyết Nghị của CĐNVTD Úc Châu ghi rơ: “Ban
Chấp Hành Cộng Đồng Liên Bang nhiệm kỳ 2008-2010 sẽ nghiên cứu việc tổ chức một
Nghị Hội của các cộng đồng người Việt tự do trên toàn thế giới”. Nhưng câu trả
lời của ông VMC th́ lại đề cập đến “Nghị Hội người Việt toàn thế giới”. Và đến
ông Nguyễn Quang Duy, th́ “Nghị Hội người Việt toàn thế giới” có chữ viết hoa có
chữ không của ông VMC, đă trở thành “Nghị Hội Người Việt Toàn Thế Giới”, tất cả
đều được viết hoa.
Như vậy, theo Quyết Nghị của CĐ Úc Châu, th́ đó là Nghị Hội của “các cộng đồng
người Việt tự do” trên toàn thế giới, NGOẠI TRỪ VN v́ tại VN không hề có cộng
đồng người Việt tự do. Nhưng theo câu trả lời của ông VMC, th́ Nghị Hội đó bao
gồm “người Việt toàn thế giới”, điều đó có nghĩa, những người tham dự Nghị Hội
có thể với tư cách cá nhân và có thể đến từ Việt Nam. Đây chỉ là thiếu sót trong
khi viết của ông VMC và ông NQD, hay ông VMC và NQD đă có dụng ư nguy hiểm khi
thay tên "Nghị Hội" nhằm mở cửa cho những người từ VN được VC cho phép xuất
cảng, tham dự "Nghị Hội"? Nếu vậy, rơ ràng ông VMC đă thực hiện sai và sai một
cách NGHIÊM TRỌNG, Quyết Nghị của CĐ Liên bang.
Và như vậy, phải chăng “Nghị Hội” sẽ có sự tham dự của một số người được mệnh
danh là “nhà đấu tranh dân chủ” đến từ Việt Nam và được VC cho phép xuất ngoại?
Trong số đó, phải chăng sẽ có sự tham dự của Lê Thị Công Nhân, Đỗ Nam Hải, Trần
Khuê?... Như vậy, bên cạnh những nhà đấu tranh dân chủ thật, VC sẽ dễ dàng trà
trộn những nhà “đấu tranh dân chủ cuội” do VC nặn lên, để rồi sau đó, guồng máy
tuyên truyền của VC nằm vùng tại hải ngoại cùng với chính giới xôi thịt bản xứ,
sẽ xúm nhau thổi phồng biến những nhân vật đó thành anh hùng trong một sớm một
chiều. Nếu giả thuyết này đúng, hiện VC tại VN và VC nằm vùng ở hải ngoại đang
tung hứng để nặn ra những nhà "dân chủ cuội", dọn đường cho họ sang Úc tham gia
Nghị Hội.
Chúng tôi cũng được biết, “Nghị Hội” này sẽ được tổ chức vào cuối tháng 11 năm
2010, và ngoài VMC, NQD, một số nhân vật khác cũng đóng vai tṛ quan trọng như
BTC (nghe đâu đă rút ra?), LTQ, ĐVT, NNB... Như vậy, “Nghị Hội Người Việt Toàn
Thế Giới” viết hoa của VMC trong bài viết của NQD, do CĐ NVTD tổ chức vào tháng
11 năm nay và cái gọi là “Hội Nghị Người Việt Nam Toàn Thế Giới” do VC tổ chức
tại Hà Nội vào cuối tháng 11 năm 2009 có ǵ khác biệt, ngoài việc đảo lộn chữ
“Hội Nghị” thành “Nghị Hội”?
Nhân đây, cũng xin có đôi ḍng về ông Nguyễn Quang Duy. Ông NQD nguyên là cựu
chủ tịch CĐNVTD tại Canberra, hiện sống ở Melbourne. Tôi được thấy ông lần đầu
tại TTVH & SHCĐ trong dịp CĐNSW họp bàn về cuộc biểu t́nh phản đối Casula
Powerhouse vào đầu năm 2009. Khi Sàig̣n Times có những bài viết đóng góp với ông
Hoàng Ngọc-Tuấn, ông NQD có gửi cho chúng tôi một, hai bài phê phán HNT. Thấy
bài viết tương đối tích cực, nên chúng tôi cho đăng trên Diễn Đàn SGT. Nhưng
những bài viết sau đó của ông lại chuyển hướng, có vẻ mời gọi ông HNT tham gia
cộng đồng, nên chúng tôi đă không đăng. Sau đó qua một số cuộc điện đàm vào dịp
30-4, nhận thấy lối hành xử của ông NQD không rơ ràng, và qua một số bài viết
của ông NQD xuất hiện trên diễn đàn, có nội dung cố t́nh khuấy động ḷng thù hận
của người Việt với Trung Quốc, để người đọc không thấy được kẻ thù nguy hiểm,
ngay trước mắt cần phải tiêu diệt là bè lũ CSVN bán nước và lũ tay sai c̣ mồi,
nên chúng tôi không đăng những bài viết này của ông. Sau này, độc giả tại VIC
cho biết, NQD là đảng viên quan trọng của đảng VT. Chúng tôi không biết tin này
đúng hay sai, nhưng cũng xin mạnh dạn ghi ở đây, và chờ đợi sự lên tiếng của ông
NQD để đính chính nếu cần.
6. Biểu t́nh tại Canberra
Trả lời phần này, ông VMC viết: “Anh biết tương đối rơ là tôi có cố gắng hoà
giải vụ kiện giữa CĐ và Hội CQN Queensland, trong tư cách như là một Mediator
t́nh nguyện, nếu tính tiền th́ khá nhiều đấy. Cũng v́ sợ mang tai tiếng cho CĐ
và Hội CQN Queensland. Chứ làm “Power Broker” như anh nghĩ th́ được ǵ? Tôi cũng
như nhiều người Việt tỵ nạn khác, đâu có “ăn không ngồi rồi” để vơ mọi việc vào
chi cho nó “tổn thọ”. Tôi không đi vào chi tiết và phổ biến công khai v́ tôn
trọng đạo đức nghề nghiệp (ethical conduct) và sự kín đáo giữa người hoà giải và
thân chủ (Mediator and client relationship), mặc dầu làm việc không thù lao. Tôi
biết được tin vụ kiện trước tiên từ Hội CQN/QLD chứ không phải từ CĐ.Tôi đă làm
hết sức ḿnh nhưng “lực bất ṭng tâm”, rốt cuộc có thể (?) cả hai bên đều “nghi
vấn” là tôi phía này hay phía kia. Để làm ǵ? V́ danh dự cộng đồng chúng ta nói
chung.”
Đọc đoạn này có nhiều độc giả ngạc nhiên, gọi điện thoại thắc mắc không hiểu tại
sao ông VMC lại đề cập đến chuyện “ḥa giải QLD” của ông ở đây. Sự thực, đoạn
văn này chả ăn nhằm ǵ với câu hỏi và những thắc mắc được SGT đưa ra. Trong câu
hỏi gửi cho ông VMC, chúng tôi đă ghi rơ báo SGT số 655 trang 40 & 41. Và trong
loạt bài viết về ông VMC trong số báo này cũng như tất cả những số báo trước,
SGT không hề đề cập đến chuyện “ḥa giải” của ông VMC tại QLD. Như vậy, tại sao
ông VMC lại dài ḍng đem câu chuyện “ḥa giải” này vô phần trả lời câu hỏi của
SGT?
Sau khi t́m hiểu chúng tôi mới vỡ lẽ, đoạn văn trên ông VMC viết không phải là
để trả lời chúng tôi, mà là để trả lời bà Nguyễn Thị Bạch Phượng. Th́ ra trong
tuần lễ trước đó, bà NTBP có gửi một email cho diễn đàn Phố Nắng và Sàig̣n
Times, trong đó có đoạn nguyên văn: “Nhưng ngạc nhiên hơn nữa là khi chuyện BS
Bùi Trọng Cường thưa kiện ông Huỳnh Bá Phụng, Chủ tịch Hội CQN-Qld, nổ ra tại
Queensland th́ được biết ông Vơ Minh Cương lại là người đóng vai tṛ “sứ giả hoà
b́nh” giữa hai bên. Một sứ mệnh mà những ai sinh hoạt cộng đồng lâu năm và hiểu
được cá tính của những nhân vật liện hệ đều cho là “thành ít bại nhiều”. Và kết
quả là như vậy. Cái khó hiểu là mới hôm trước ông Vơ Minh Cương “tắt âm thanh”
của BS Bùi Trọng Cường giữa công chúng, và dù muốn dù không, tôi nghĩ BS Cường
cũng không hài ḷng về hành động này của ông Vơ Minh Cương, thế th́ tại sao ông
Cương lại tự tin đến độ dám nhận lănh vai tṛ hoà giải giữa BS Cường và ông
Phụng? Ông Cương có mối giao t́nh riêng với BS Cường mà người ngoài không biết?
Hay ông Cương nghĩ ḿnh có thể thuyết phục ông Phụng lùi một bước? Mỗi chính trị
gia, dù chỉ là chính trị gia cộng đồng, cũng giống như nghệ sĩ trên sân khấu,
đều có một thời vàng son. Có người chọn bước xuống khi sự nghiệp của ḿnh lên
đến tột đỉnh, có người ngồi măi cho đến khi bị hạ bệ. Lại có người tuy đă bước
xuống nhưng vẫn quyến luyến ánh đèn sân khấu, họ thích làm “power broker” hay
“number cruncher” nghĩa là “môi giới quyền lực” hay “chuyên viên kiếm phiếu”.
Những nhân vật này giống như đạo diễn kịch nghệ, tuy không ra mặt nhưng đóng một
vai tṛ lớn trong những vở kịch đang diễn ra trên sân khấu cộng đồng.”
Phải chăng khi đọc bài viết của bà NTBP trên đây, ông VMC đă viết bài phản bác
bà; và khi trả lời phỏng vấn SGT, ông VMC đă đem đoạn văn phản bác bà NTBP bỏ vô
bài trả lời phỏng vấn SGT? Hay tiện thể trả lời SGT, ông VMC muốn trả lời gián
tiếp bà NTBP nên có đoạn văn trên của ông? Tuy chúng tôi không biết rơ câu trả
lời, nhưng cũng xin tŕnh bầy vấn đề này ở đây để quư độc giả thông cảm cho ông
VMC trong lúc bối rối, đă lấy râu ông nọ cắm cằm bà kia; và hiểu rơ đoạn văn ông
viết trên là cho ai và nhằm mục đích ǵ. Trong chính trị người ta thường xử dụng
xảo thuật "tung hỏa mù" hoặc "dương đông kích tây" để đánh lạc hướng độc giả. Cá
nhân chúng tôi nhận thấy ông VMC đă xử dụng xảo thuật nầy khi sử dụng đoạn văn
trên trong bài trả lời phỏng vấn Sàig̣n Times.
7. Diễn Đàn Sàig̣n Times
Khi SGT hỏi ông VMC suy nghĩ ǵ về những ư kiến đóng góp của độc giả trên Diễn
Đàn SGT, ông VMC đă không trả lời thẳng vào câu hỏi, mà lại đưa ra nghi vấn tất
cả những độc giả đóng góp trên trên DĐĐG SGT là do một người viết. Ông VMC viết:
“C̣n những lá thư “độc giả” của báo anh y hệt một khuôn.”
Dĩ nhiên, ông VMC có quyền “nghi vấn” và chúng tôi tôn trọng quyền “nghi vấn” đó
của ông. Nhưng trong cương vị một người lănh đạo, khi trả lời phỏng vấn một cơ
quan ngôn luận, ông VMC nên có sự hiểu biết, thái độ tương kính và sự lịch sự
tối thiểu, là trả lời câu hỏi của SGT, chứ không nên dùng sự “nghi vấn” đầy tiêu
cực (mà chính ông VMC cũng cho là có thể “không đúng”) để thoái thác việc trả
lời những đóng góp của độc giả. Đây là thái độ trịch thượng, phách lối, không
thể có đối với một người b́nh thường, nói chi đến người muốn lănh đạo cộng đồng.
Ông VMC cũng phải đồng ư, trong số những ư kiến đóng góp trên DĐĐG SGT, có nhiều
vị ghi tên thật, ai cũng biết, bên cạnh những người dùng bút hiệu. Với hơn 650
số báo, chúng tôi đă nhận hàng ngàn thư độc giả; và hiện chúng tôi vẫn c̣n lưu
trữ đủ loại thư độc giả (email, đánh máy, viết tay) về đủ vấn đề, trong đó có cả
thư góp ư của các vị lănh đạo cộng đồng liên bang, tiểu bang.
Ông VMC viết: “Tôi cũng có viết thư “Letter to the editor” cho báo tiếng Anh và
họ gọi điện thoại hỏi rất kỹ tên, họ thật, làm ǵ ở đâu xem có đúng trong thư
hay email không, và họ c̣n đề nghị điều chỉnh những tin tức không chính xác, họ
sửa lại, hỏi ư người viết rồi mới đăng”.
Có 2 điểm góp ư với ông VMC. Thứ nhất, không phải ai viết thư “Letter to the
editor” cho báo tiếng Anh, họ cũng đều gọi điện thoại hỏi rất kỹ tên, họ thật
như ông VMC viết. Chính bản thân chúng tôi cũng đă viết “Letter to the Editor”
cho báo Time nhân dịp kỷ niệm 20 năm ngày 30-4-75, nhưng dù đăng thư của chúng
tôi, báo Time không không hề gọi điện thoại, ngoại trừ gửi thư cảm ơn. Tất
nhiên, nếu một người viết thư “Letter to the Editor” có nội dung đặc biệt, th́
tờ báo sẽ gọi điện thoại hỏi kỹ tên họ? Nhưng nếu nội dung lá thư “Letter to the
Editor” chỉ có tính xây dựng, đóng góp ư kiến chung chung, th́ thường ít khi tờ
báo đó gọi điện thoại hỏi tên họ.
Điểm thứ hai, khi nêu vấn đề trên, ông VMC không ở cương vị của chúng tôi, nên
ông không thể biết, tuần nào chúng tôi cũng điện thoại, email hỏi thăm tên họ,
hoặc xin điện thoại để trao đổi, trước khi quyết định đăng tải các ư kiến của
độc giả. Riêng về loạt bài “Những thắc mắc về ông VMC”, chúng tôi cũng đă nhận
được những văn thư từ thân chủ của ông, khiếu nại về dịch vụ di trú mà ông cung
cấp. Tuy nhiên, v́ thấy nội dung những thư đó không phù hợp với vấn đề chúng tôi
đề cập, nên chúng tôi đă từ chối đăng tải, cho dù chúng tôi có quyền đăng để làm
sáng tỏ tư cách chuyên môn của ông. Chúng tôi đă khuyên những người đó, tốt nhất
nên trực tiếp khiếu nại với ông VMC. Sau đó, nếu không thỏa măn, hăy khiếu nại
với Bộ Di Trú, hay Bộ Tiêu Thụ, hoặc nhờ tới luật sư can thiệp.
8. Kết và đề nghị
Ông VMC viết: “Độc giả họ chán và ghét, cả anh lẫn tôi, như chính anh thổ lộ
trên báo là “một số lănh đạo CĐ khuyên” anh chấm dứt đó”.
Sự thực, khi chúng tôi viết “một số lănh đạo CĐ khuyên chúng tôi chấm dứt loạt
bài về ông VMC”, th́ ông VMC chỉ đọc và biết có vậy. Ông đâu có biết những người
đó là ai, và ông cũng không biết những vị lănh đạo đó đă hoan nghênh SGT như thế
nào sau khi đọc bài cuối cùng của chúng tôi. Các vị lănh đạo đó cho biết, v́
tưởng SGT tiếp tục viết bài về ông VMC làm cho Hội Thủ Đức phân hóa, th́ họ nghĩ
như vậy là đủ. Nhưng đến khi đọc bài viết cuối cùng của SGT th́ những vị lănh
đạo đó hoàn toàn hoan nghênh v́ đó là những vấn đề quan trọng về ông VMC, cần
được bạch hóa.
Ông VMC viết: “Trong trận chiến “Mùa Hè Đỏ Lửa” 1972, tôi dẫn hợp đoàn 24 chiếc
trực thăng vô An Lộc bốc Tiểu Đoàn 6 Dù của Thiếu tá Đỉnh dưới chân Đồi Gió, tôi
run nhưng không sợ, run v́ thời tiết, không sợ v́ bên tôi c̣n t́nh huynh đệ chi
binh, cả Dù lẫn Không Quân, sống chết có nhau, nhưng bây giờ tôi biết “sợ” anh
đó nghe anh Hữu Nguyên. Anh biết v́ sao tôi “sợ” anh không? Kiểu anh “kill
messenger” của thời cổ La Mă, không hợp ở thời đại này mà chỉ tạo hố ngăn cách
trong lối xử thế với nhau mà thôi”.
Ông VMC đă hỏi, tôi xin trả lời. Trong trận chiến 1972, khi đối diện với VC, ông
VMC không sợ v́ bên cạnh ông “c̣n t́nh huynh đệ chi binh, cả Dù lẫn Không Quân,
sống chết có nhau”. C̣n hiện tại ông VMC sợ v́ bên cạnh ông không c̣n t́nh huynh
đệ chi binh. C̣n bảo ông VMC sợ v́ Hữu Nguyên “kill messenger”, th́ thật là tối
nghĩa, vô lư, nếu không nói đó chỉ là cách khoe khoang sự hiểu biết của ông về
tập tục tàn bạo giết sứ giả của người La Mă thời cổ đại, mà sự hiểu biết này
chẳng ăn nhập vào đâu đối với những nghi vấn mà cá nhân chúng tôi muốn ông phải
làm sáng tỏ cả. (Cũng thưa với ông VMC, chúng tôi thấy người Anh hay viết "kill
the messenger" chứ không thấy ai viết "kill messenger" như ông viết).
40 năm trước, ông VMC là một người lính can đảm, chiến đấu v́ lư tưởng nên chung
quanh ông luôn luôn có những người lính sẵn sàng sống chết với ông trong t́nh
huynh đệ chi binh. C̣n hiện tại, ông VMC làm những việc nguy hiểm khiến nhiều
người nghi kỵ ông, phải xa lánh ông, th́ làm sao ông VMC có được những người
lính bên cạnh ông trong t́nh huynh đệ chi binh? Như vậy hỏi sao ông không sợ! Và
đó mới là nguyên nhân đích thực khiến ông VMC thú nhận, bây giờ tôi biết “sợ”.
Chính bản thân tôi, trước kia cũng gần gũi, tin tưởng ông VMC. Nhưng từ khi nghe
ông nói về những cuộc điện đàm kéo dài mấy tiếng đồng hồ với Cha Lư, về đảng
Thăng Tiến, và hơn một lần ông VMC mời tôi nói chuyện điện thoại với Cha Lư, tôi
đă thẳng thắn từ chối và thấy sợ, không dám gần gũi ông VMC như trước.
Sau khi nghe tin Cha Lư bị VC bỏ tù vào ngày 30/3/2007, trong buổi Lễ Giỗ Tổ
Hùng Vương được tổ chức tại Trung Tâm Văn Hóa & Sinh Hoạt Cộng Đồng vào ngày
22/4/2007, tôi đă kéo ông VMC ra bên trái cửa hông của TT (từ trong TT đi ra) để
nói chuyện. Chưa kịp nói ǵ th́ ông VMC lấy gói thuốc lá mời, tôi từ chối v́ đă
bỏ thuốc lá từ lâu. Ông rút một điếu thuốc rồi bật quẹt hút. Chờ ông hít xong
hơi thuốc lá đầu tiên, tôi nói: “Về chuyện Cha Lư, tôi nghĩ anh nên cẩn thận,
nếu không người ta sẽ cho anh tung hứng với VC để đưa Cha Lư vô tù đó”. Vừa nghe
tôi nói xong, ông VMC vứt ngay điếu thuốc ông vừa mới hút vào chân tường. Vứt
xong, ông VMC lại cúi xuống nhặt điếu thuốc, v́ điếu thuốc vừa mới hút sao lại
vứt đi?? Nhặt lên được nửa chừng, ông VMC bối rối, v́ nhặt lên để làm ǵ? Chẳng
lẽ nhặt điếu thuốc lên hút tiếp th́ kỳ?. Đây chứ đâu có phải ở VN, trong trại tù
cải tạo đâu? Có lẽ v́ nghĩ như vậy nên ông VMC vội dụi điếu thuốc vào chân tường
cho tắt hẳn, rồi vứt điếu thuốc ở đó. Sau ông đứng lên, hỏi tôi: “Anh nghĩ tôi
như vậy phải không?” Tôi nói: “Tôi bây giờ th́ không, nhưng dư luận họ có quyền
nghĩ như vậy.” Ông VMC liền nói với tôi những lời tâm huyết về Cha Lư, về cộng
đồng, về cuộc đấu tranh chống CS, về quê hương đất nước? Tôi lắng nghe, tin
tưởng ở tấm ḷng của ông nhưng vẫn không đồng ư với những lời giải thích quanh
co của ông. Bằng tất cả tấm ḷng thành, tôi nói với ông VMC điều mà tôi vẫn
thường trao đổi với anh em trong BBT: “Anh Cương. Anh cũng biết, tôi rất quư
trọng và khâm phục những người con của anh. Họ là thế hệ trẻ, không những học
hành thành tài, dấn thân phục vụ cộng đồng, mà c̣n có tấm ḷng với quê hương đất
nước và có được sự sáng suốt, thấy rơ được chủ nghĩa CS là thảm họa cho dân tộc
và nhân loại. V́ vậy, nếu anh không cẩn thận, dẫn đến những dị biệt về đường lối
và lập trường trong đấu tranh chống cộng, tôi e rằng chính các con anh sẽ đấu
tranh chống lại anh và thảm kịch sẽ diễn ra ngay trong nhà anh.” Tôi cũng nói
với anh: "VC chúng rất nham hiểm, thủ đoạn, nên chúng sẽ vắt chanh bỏ vỏ. Lôi
kéo được ai, chúng dùng một thời gian rồi chính chúng sẽ cho tay chân bạch hóa
tội nằm vùng của người đó...." Nghe tôi nói, ông VMC khẳng định một lần nữa về
tấm ḷng, tâm huyết và sự sáng suốt của ông trước mọi mưu toan của VC. Chúng tôi
vui vẻ kết thúc câu chuyện ở đó và cùng quay vô hưởng lộc Tổ. Sau khi Lễ Giỗ Tổ
bế mạc, trên đường lái xe về, tôi có kể lại chuyện này cho anh Phạm Thanh Phương
và LS Lê Đ́nh Hồ nghe v́ hai anh cùng đi chung xe với tôi.
Kể lại chuyện trên đây, tôi chỉ bảo đảm chính xác 90% những lời đối thoại của
tôi và ông VMC, nhưng tôi bảo đảm, đă kể lại đúng 99% những cử chỉ lạ lùng mà
ông VMC đă làm khi vứt điếu thuốc lá. Cho đến nay, chúng tôi cũng không hiểu lư
do nào khiến ông VMC lại có những cử chỉ lạ lùng như vậy? Ông VMC có thể xác
nhận câu chuyện này hay không là tuỳ ở trí nhớ và sự thẳng thắn, thành thật của
ông.
Trở lại bài trả lời của ông VMC, chúng tôi không hiểu, ông viết tôi “kill
messenger” nghĩa là ǵ? Phải chăng ông VMC muốn nói ông là một “messenger”? Nếu
vậy th́ ông VMC là messenger của ai? Của cộng đồng NVTD th́ tôi là thành viên
của CĐ, tôi đâu có cần loại messenger đó. Nhưng dù ông VMC có là messenger của
ai đi nữa, tôi cũng không bao giờ “kill” theo cả nghĩa đen lẫn nghĩa bóng. Ngay
cả messenger của VC đă đến tận nhà tôi, hăm dọa tôi và vợ con của tôi, tôi cũng
chỉ đuổi cổ y ra khỏi nhà, chứ không có “kill”?.
Hơn mười năm trước, khi c̣n sống ở 51 Brandon Avenue, Bankstown, mỗi tối Thứ Tư,
vào khoảng 9 giờ, tôi thường một ḿnh ghé vào một nhà hàng ở Marrickville ăn tối
sau khi lấy báo từ nhà in cách đó không đầy 1 cây số. Tối hôm đó khi đi tới gần
nhà hàng, tôi thấy có 4, 5 người trong đó có ông chủ tiệm người Hải Pḥng, đang
đứng trước cửa tiệm. Thấy tôi từ xa, họ tiến tới chào hỏi niềm nở. Ngoại trừ
người đi đầu chống gậy, tuổi trên dưới 60, c̣n lại đều trên dưới 40. Người đi
đầu (tôi tạm gọi là Z) tự nhận là đàn em ái mộ thơ Quang Dũng, c̣n giữ ảnh lưu
niệm của Quang Dũng, và ngỏ ư muốn mời tôi một bữa nhậu v́ quư tôi và tờ SGT từ
lâu. Tôi vui vẻ nhận lời. Trong bữa cơm, Z nói nhiều về Văn Nhân Giai Phẩm, và
tỏ ra quen biết rộng những nhân vật tên tuổi trong chính giới Úc, trong cộng
đồng Việt tại NSW cũng như trong giới báo chí Việt. Y kể chuyện thường đánh bạc
với ông chủ báo nào, tại nhà BS nào ở Bankstown, thường lái xe với ai khi đi qua
nhà tôi, và ông chủ báo đó đă nói về tôi như thế nào? Nghe Z nói tôi rất ngạc
nhiên và thích thú. Có điều tôi thấy không khí ở bàn nhậu không b́nh thường v́
chỉ có Z nói, c̣n mấy người trẻ đều im lặng cúi đầu ăn uống. Ăn uống xong, Z ngỏ
ư đến chơi nhà tôi, dù lúc đó đă gần 12 giờ đêm. Thấy Z ngỏ ư như vậy cũng kỳ
nên linh tính cho tôi biết, Z không phải là người b́nh thường. Nhưng tôi vẫn vui
vẻ nhận lời. Z theo tôi đi ra chỗ đậu xe. C̣n cách xe của tôi hơn chục thước, Z
đă dơ gậy chỉ về phía chiếc xe của tôi đậu giữa một dẫy mấy chiếc xe và bảo: “Xe
của Hữu Nguyên đó phải không?” Tôi trả lời “vâng” và hiểu ngay, Z nói vậy là
ngầm cho tôi biết, y đă theo dơi tôi và biết rất rơ về tôi. Như vậy, Z là ai,
tôi đă đoán ra.
Sau đó, tôi lái xe chạy trước, Z một ḿnh lái xe theo sau, cùng về Bankstown.
Trên đường lái xe về nhà, tôi thấy thích thú v́ không ngờ ḿnh chỉ là một thằng
làm báo tầm thường, mà cũng làm cho VC phải run sợ, t́m cách gặp gỡ. Z là ai,
gặp tôi làm ǵ? Dụ dỗ mua chuộc, hay hăm dọa, hay cả hai, tôi không ngại, không
sợ và cũng không băn khoăn, v́ từ mấy chục năm trước, tôi đă chọn cho ḿnh một
lư tưởng, một con đường: Đấu tranh chống lại chủ nghĩa CS, nguồn gốc mọi thảm
họa cho dân tộc Việt Nam suốt hơn nửa thế kỷ qua, trong đó có gia đ́nh, thân
nhân, bằng hữu của tôi và chính bản thân tôi. Trải qua mấy chục năm, niềm tin
vào lư tưởng của tôi càng ngày càng vững vàng và ư chí của tôi càng ngày càng
quật cường. V́ vậy, nh́n vào gương chiếu hậu, thấy Z lái xe đi theo lúc đó, tôi
chỉ thấy thích thú và khoái trá trong tâm trạng của một người đă sẵn sàng, chuẩn
bị bước vào một cuộc đối đầu, mà phần thắng tôi đă cầm chắc trong tay.
Khi về đến nhà, tôi giới thiệu vắn tắt Z với vợ con, rồi chúng tôi ngồi uống
nước trà nói chuyện. Sau vài câu thăm hỏi vu vơ, Z bắt đầu màn dụ dỗ mua chuộc
tôi và tờ báo. Đầu tiên Z kể về quê hương của tôi, về con đường tráng nhựa từ
Phủ Lư về quê nhà bây giờ khang trang đẹp đẽ như thế nào, về trường học cũ của
tôi ra sao, về thầy cô giáo xưa của tôi ai c̣n ai mất. Y ngỏ ư mời tôi về chơi
VN một chuyến, mọi phí tổn sẽ do nhà nước lo lắng chu đáo, ăn ở tại khách sạn
của nhà nước không phải trả tiền, muốn đi đâu, thăm ai cũng được và sẽ có xe của
nhà nước đưa đón. Z nói, đảng và nhà nước chỉ muốn tôi đích thân về thăm VN để
thấy được tận mắt quê hương bây giờ đổi mới như thế nào dưới sự lănh đạo tài
t́nh và sáng suốt của đảng. Sau đó trở lại Úc, tôi muốn viết bài như thế nào là
quyền tự do của tôi. Z cũng nói nếu tôi muốn băo lănh cho bất cứ ai ở VN, y sẽ
lo mọi chuyện, tôi không phải bước ra khỏi nhà, mọi thủ tục đă có y lo, tôi chỉ
cần kư vào các giấy tờ cần thiết về di trú là bảo đảm, sau một thời gian ngắn,
người thân của tôi sẽ có mặt tại Úc.
Tôi ngồi đó ngạc nhiên, sững sờ, v́ không thể ngờ Z lại biết về tôi rơ như vậy.
Y biết về tôi và quê hương của tôi c̣n hơn cả vợ con tôi nữa. V́ vậy, tôi chỉ
lặng im nghe y nói. Sau một hồi buông lời dụ dỗ, mua chuộc, y xoay qua những
ngôn ngữ có ư doạ dẫm, đe doạ sự an nguy của vợ và con tôi. Y bảo tôi đừng nên
viết bài chống phá đảng và nhà nước, nên nghĩ đến sự an toàn của vợ con, nhất là
các cháu c̣n trẻ đang đi học? Nghe y nói vậy, tôi nổi nóng, liền lớn tiếng cảnh
cáo y đă vi phạm luật pháp Úc. Tôi nói: “Tôi nói cho ông biết, tôi là công dân
Úc, tôi làm báo đấu tranh chống cộng sản VN trong khuôn khổ luật pháp Úc cho
phép. Tôi không kêu gọi bạo động, tôi không đ̣i khủng bố, nên tôi không phải sợ
hăi bất cứ cá nhân nào, bất cứ thế lực nào. Bây giờ tôi nói cho ông biết, ông
hăm dọa vợ con tôi là ông phạm pháp. Tôi yêu cầu ông ra khỏi nhà tôi ngay, nếu
không tôi sẽ gọi cảnh sát đến c̣ng tay ông ngay tức khắc”.
Vợ con tôi nghe tôi to tiếng, vội vă chạy xuống can gián. Y thấy vậy cố nói một
hai lời phân bua? nhưng tôi ngắt lời y, không cho y nói. Tôi đứng dậy, chỉ tay
thẳng ra cửa, nghiêm giọng và lớn tiếng, gần như hét lên: “Tôi yêu cầu ông cút
ra khỏi nhà tôi ngay tức khắc. Cút ngay!” Lập tức y run run đứng dậy, chống gậy
bước ra khỏi nhà tôi, miệng không dám hó hé một câu.
Con trai lớn của tôi lúc đó đang học lớp 10, có hỏi tôi. Tôi chậm răi kể lại đầu
đuôi cho nó nghe và hỏi nó có sợ khi có người sẽ bắt cóc, hay đánh đập, khủng bố
các con không. Thằng con tôi cười khan (nó có thói quen hay cười như vậy mỗi khi
nói), rồi trả lời: “Ông già đó đó làm vậy là bất hợp pháp, th́ tại sao chúng con
lại sợ ông ấy? Ba cứ tự do làm báo, viết những điều ba tin là đúng. Ở đây xứ tự
do mà ba. Chúng con có bị làm sao, chúng con cũng không sợ.” Nghe con tôi nói
vậy, tôi rất tự hào và cảm động.
Bây giờ, thỉnh thoảng những lúc gia đ́nh xum họp, tôi vẫn nhắc lại chuyện xưa để
được sống lại trong niềm vui, ḷng tự hào và sự hạnh phúc của một người được
sống trong một xă hội tự do dân chủ, được tự do theo đuổi hoài băo và lư tưởng
cao đẹp của ḿnh, với sự hậu thuẫn hết ḿnh của vợ con.
Kể lại chuyện trên đây để quư độc giả và ông VMC thấy, với ngay cả VC messenger
chúng tôi c̣n đàng hoàng ứng xử trong tư cách của một người có chính nghĩa, có
văn hóa, th́ làm sao chúng tôi lại có thể “kill” the messenger Vơ Minh Cương
được? Chúng tôi chỉ viết bài tŕnh bầy những thắc mắc đối với những việc ông VMC
làm, một cách đàng hoàng, quang minh chính đại, trong khuôn khổ luật pháp và phù
hợp cách ứng xử của một người trong xă hội văn minh. Vậy mà ông VMC bảo chúng
tôi “kill” the messenger th́ thật là sai lầm. Chúng tôi tin, độc giả luôn luôn
có đủ tŕnh độ và sáng suốt để phán đoán một bài viết đúng hay sai, hợp t́nh hợp
lư hay không.
Ông VMC viết: “Vụ này anh “đánh”, tôi “đỡ” đó nghen. Mọi chuyện, nếu độc giả có
“chửi” anh chịu à. Anh nên đấm ngực 3 lần và mỗi lần nói lớn “mea culpa” (lỗi
tại tôi), c̣n việc xin lỗi tôi và gia đ́nh tôi hay không tùy anh. Theo tôi như
vậy mới “fair” đó anh Hữu Nguyên”.
Ông VMC, như tôi đă khẳng định với ông trong cuộc điện đàm vào chiều Thứ Tư
27/1: “Anh Cương, chúng tôi làm báo không để đánh ai cả. Chúng tôi chỉ tŕnh bầy
những thắc mắc, những nghi vấn đối với việc anh làm”. Lúc đó, tôi đă yêu cầu ông
VMC rút lại chữ “đánh” và ông đă đồng ư. Vậy th́ tại sao trong văn viết, ông lại
sử dụng chữ đó?
Là một cơ quan ngôn luận, chúng tôi chỉ hành xử quyền hạn của ḿnh đối với những
việc làm của “public figure” VMC khi việc làm của ông có ảnh hưởng đến quyền
lợi, uy tín của mọi người trong cộng đồng; và mọi người, trong đó có độc giả
SGT, đều có quyền được biết.
Cũng thưa với ông VMC, từ khi loạt bài thắc mắc về ông được SGT đăng tải vào
cuối tháng 1 cho đến nay, chúng tôi chưa nghe thấy một độc giả nào phản đối (xin
lỗi ông VMC tôi không muốn dùng từ “chửi” như ông đă viết). Ngay cả những người
gần gũi và thân thiết với ông VMC khi gặp chúng tôi cũng sôi nổi ủng hộ, hoặc
nhẹ nhàng tán thành, hoặc ít nhất cũng im lặng, không hề phản đối. Tôi xin nhắc
lại một lần nữa sự thật này để ông VMC hiểu cho rơ: Cho đến nay, chưa có một ai
phản đối loạt bài thắc mắc về ông VMC của chúng tôi. Đây là điều thật khích lệ
và đáng mừng v́ từ xưa đến nay, bất cứ vấn đề quan trọng nào được SGT đề cập,
đụng chạm đến cá nhân này hay tổ chức nọ trong CĐ, cũng đều ít nhiều nhận được
những ư kiến phản đối. Nhưng riêng lần này th́ không. Hoàn toàn không có ai.
Thậm chí, cả những vị quen biết ông VMC và ông Trần Bá Phúc (cũng làm di trú ở
Melbourne), suốt thời gian hai chục năm nay, chưa bao giờ gọi cho SGT, nay cũng
gọi cho chúng tôi và cho biết, ông hậu thuẫn loạt bài viết về ông VMC và cho
chúng tôi biết nhiều chứng cớ quan trọng. Ngay cả những nữ độc giả cả một đời
đạo hạnh chỉ biết đến nhà thờ, nhà bếp và chở con cháu đi học, cũng gửi email
hậu thuẫn những bài viết của chúng tôi về ông VMC. Và ngay cả ông VMC khi gặp
chúng tôi tại Hội Chợ Tết, hay gọi điện thoại cho chúng tôi vào buổi chiều Thứ
Tư, ngay sau khi số báo đầu tiên đăng loạt bài thắc mắc về ông VMC được phát
hành, ông cũng nói chuyện rất nhă nhặn lịch sự về bài viết của chúng tôi.
Cuối cùng, chúng tôi cũng xác định với ông VMC, chúng tôi chỉ xin lỗi ông khi
nào những sự kiện thực tế (facts) mà chúng tôi đă nêu trong bài viết, được ông
chứng minh một cách hai năm rơ mười là sai. Khi đó, chúng tôi sẽ đấm ngực 3 lần,
và thay v́ nói "mea culpa" như ông VMC muốn, chúng tôi sẽ nói "mea maxima
culpa".
C̣n tất cả những thắc mắc, những giả thuyết, những câu hỏi? được chúng tôi tŕnh
bầy trong bài viết, nếu được ông VMC giải thích đầy đủ và rơ ràng khiến chúng
tôi thỏa măn, th́ việc đó sẽ hóa giải những nghi vấn và mang lại ích lợi cho ông
VMC. Ông VMC nên hiểu, bất cứ cá nhân nào, hay cơ quan ngôn luận nào, khi chân
thành và thẳng thắn đưa ra những thắc mắc, những giả thuyết, những câu hỏi (cho
dù có hỏi sai đi nữa)? về những việc làm của một public figure, khi việc làm đó
ảnh hưởng đến quyền lợi của công chúng, họ đều KHÔNG CÓ LỖI. Chính ông VMC khi
đưa ra nghi vấn, tất cả những thư độc giả trên báo SGT đều do một người viết,
ông cũng xác nhận, nếu ông nghi vấn không đúng th́ xin chúng tôi bỏ qua, tuyệt
nhiên ông không hề nói ông “xin lỗi” chúng tôi. Như vậy, tại sao ông lại đ̣i
chúng tôi xin lỗi ông, xin lỗi vợ ông, rồi cả các cháu của ông? Có đúng đ̣i hỏi
của ông là không hợp t́nh, hợp lư không? Chúng tôi chỉ tŕnh bầy những nghi vấn,
những thắc mắc về việc ông làm, vậy mà ông đ̣i chúng tôi phải xin lỗi ông và gia
đ́nh ông th́ mới "fair". Vậy xin hỏi ông, những việc ông làm, vô t́nh hay cố ư,
đă góp phần khiến Cha Lư bị tù đầy, hiện đang sống dở chết dở trong ṿng lao lư,
th́ ông đă làm ǵ cho đúng phép công bằng để chuộc lại những tội lỗi tầy trời
đó? Ông đă ăn năn, đấm ngực 3 lần và nói "mea culpa" chưa?
Ông VMC viết: “Từ nay có ǵ không vừa ư với nhau, chúng ta lại cùng ngồi xuống
nói chuyện, nhưng ḿnh “bàn” chuyện nào nên và chuyện nào không nên đăng báo
nghe anh Hữu Nguyên.”
Đọc câu ông VMC viết, chúng tôi vừa ngạc nhiên lại vừa ph́ cười. Ông VMC là một
vị lănh đạo CĐ chứ không phải là một đồng nghiệp cùng làm báo Sàig̣n Times với
chúng tôi. Chúng tôi là một cơ quan ngôn luận phục vụ cộng đồng, chứ không phải
là một tờ báo của ông VMC. Vậy th́ tại sao ông VMC lại có sự đ̣i hỏi vô lư,
chúng tôi phải ngồi xuống bàn với ông VMC “chuyện nào nên và chuyện nào không
nên đăng báo”? Hay ông VMC tưởng lầm nước Úc này là một tỉnh huyện của Việt Nam
để ông có thể mang bục công an đặt giữa tim người, bắt t́nh cảm ngược xuôi theo
luật đi đường của nhà nước? Thú thực, đọc những gịng ông viết, tôi có cảm tưởng
ông cũng đang lăm le bắt chước mấy quan chức VC, muốn báo SGT và báo chí Việt
ngữ nói chung tại Úc phải đi theo lề phải! Xin ông VMC đọc lại những ḍng ông đă
viết, rồi chịu khó tự ngẫm xem ông viết vậy có xứng đáng với sự hiểu biết, cương
vị và tuổi tác của ông hay không.
Ông VMC viết: “Năm mới khai bút, tôi cố viết cho nó nhẹ nhàng, v́ không nên khác
hơn, mang chút dư âm xuân tha hương thứ 28 của đời tôi và để giữ cái t́nh với
nhau"
Xưa nay, cha ông chúng ta vẫn thường nói, “một lời nói một đọi máu”, hay “bút sa
gà chết”, để dậy chúng ta khi nói năng, viết lách phải cẩn thận. V́ vậy, mỗi khi
cầm bút, bất kể là năm cũ hay năm mới, đầu năm, giữa năm hay cuối năm, khai bút
hay không khai bút, chúng tôi đều thấy ḿnh có bổn phận thật thận trọng, cẩn
thận, trước khi viết. Sự thật, ông VMC c̣n có nhiều vấn đề cần được tŕnh bầy,
nhưng v́ sự ổn định của cộng đồng và cũng muốn giữ cái t́nh với ông, nên chúng
tôi chỉ nói có một hai. Bằng chứng trong bài viết hôm nay, chúng tôi phải đề cập
đến những sự kiện tuy chúng tôi đă biết từ lâu, nhưng chúng tôi không muốn nói
tới trong những bài viết trước. Chỉ v́ thấy ông VMC không thành khẩn và thẳng
thắn nh́n nhận sai lầm, chúng tôi mới bắt buộc đề cập trong bài viết này.
Nói vậy, nhưng nếu như những bài viết của chúng tôi khiến ông VMC và những người
thân của ông phải tức giận, th́ quư vị phải hiểu, không phải v́ chúng tôi có một
nói mười; mà chỉ v́ một phần mười những ǵ cần nói, cũng đủ thấy vô cùng tai hại
cho cộng đồng, cho Hội Thủ Đức, cũng như cho các nhà đấu tranh dân chủ trong
nước, trong đó có Cha Lư.
“Giữ cái t́nh với nhau” là điều đáng quư, đáng làm. Nhưng nếu cha ông chúng ta
ngày xưa, và các nhà đấu tranh dân chủ trong nước ngày nay, đă có những lúc phải
hy sinh t́nh riêng để phụng sự ích lợi chung của đất nước của dân tộc, th́ thiết
nghĩ chúng ta cũng nên noi gương họ, không nên chỉ v́ cái t́nh với nhau, mà nhắm
mắt bịt tai trước những sai lầm tai hại cho dân cho nước mà bạn ḿnh đă gây ra.
Thành tâm, cho đến thời điểm hôm nay, khi viết những ḍng chữ này, chúng tôi vẫn
coi ông VMC là một vị lănh đạo cộng đồng có khả năng và uy tín. Những đóng góp
của ông vào CĐ thật lớn lao trong suốt mấy chục năm qua và sẽ tiếp tục trong
tương lai. Nhưng nhân vô thập toàn, ông VMC cũng có những hạn chế và sai lầm.
Nếu ông thành tâm, thẳng thắn và can đảm, nhận ra được những hạn chế và sai lầm
đó để sửa chữa, chắc chắn những đóng góp của ông cho CĐ sẽ c̣n lớn lao gấp bội.
Trong niềm thành tâm đó, chúng tôi mạnh dạn viết bài đóng góp với ông. Tuy bài
trả lời phỏng vấn của ông khiến chúng tôi thất vọng, nhưng chúng tôi vẫn tiếp
tục nuôi hy vọng. Và trong niềm hy vọng đó, chúng tôi thành tâm tin tưởng, cái
t́nh giữa chúng tôi với ông VMC và gia đ́nh ông vẫn không hề suy chuyển.
Cuối cùng, chúng tôi cũng xin thưa, để đi đến sự thật ngỏ hầu giải quyết một vụ
tranh tụng, ṭa án thường trải qua 3 bước. Thứ nhất, bên nguyên đơn tŕnh bầy
những cáo buộc để buộc bị đơn. Thứ hai, bên bị đơn tŕnh bầy những thực tế và lư
lẽ để phản bác những cáo buộc đó. Thứ ba, bên nguyên đơn đưa ra những bằng
chứng, lư lẽ để làm sáng tỏ những thực tế và lư lẽ của bị đơn. Cuối cùng, sau
khi theo dơi toàn bộ tiến tŕnh 3 bước, bồi thẩm đoàn sẽ đi đến thảo luận và
quyết định, những cáo buộc của nguyên đơn là đúng hay sai.
Tương tự như vậy, chúng tôi và ông VMC cũng đă làm đầy đủ 3 bước. Thứ nhất,
chúng tôi tŕnh bầy những nghi vấn, những thắc mắc về ông VMC. Thứ hai, ông VMC
đă lên tiếng trả lời những cáo buộc của chúng tôi và bài trả lời của ông đă được
SGT đăng tải đầy đủ, không thiếu một chữ. Thứ ba, trong bài viết này, chúng tôi
đă lên tiếng để làm sáng tỏ những ǵ ông VMC trả lời. Bây giờ, kết luận về ông
Vơ Minh Cương như thế nào, hoàn toàn tuỳ thuộc vào sự sáng suốt và công tâm của
quư độc giả.
|