Diễn Đàn Bạn Đọc

Hoàng Tuấn Phụ Trách

 

 

 

 

Mục Lục

 

Người Ghé Thăm

 

 

SAIGON TIMES PTY

ABN 71 088 414 b457

 

175 William St,

Bankstown NSW 2200

 

PO BOX 409

Bankstown NSW 2200

 

Tel: (02) 9793 2557

Fax: (02) 9791 5438

 

Email: info@saigontimes.com.au

 

 

Chủ Bút - Editor

Hữu Nguyên

Mob: 0438 699 150

 

Phụ Tá Chủ Bút - Assistant Editor

Phạm Thanh Phương

Mob: 0411 638 770

 

Cố Vấn Luật Pháp- Legal Advisor

Luật Sư Lê Đ́nh Hồ

(LeDinh Lawyers)

Tel: (02) 9708 6629

Mob: 0413 166 152

 

Ban Biên Tập

Phạm Thanh Phương

Lê Đ́nh Hồ

Hoàng Tuấn

Thùy Dzung, Hữu Nguyên

 

Cộng Tác

 Trường Sơn Lê Xuân Nhị

Sầu Đông, Trần Ngân Tiêu

Mơ Sàig̣n, Vũ Hồ, Quốc Hải

Con Hưu, Phạm thái Lai

Doăn B́nh, Bội Diệp, Lê Phụng

Lẩn Thẩn Hậu Sinh, Ái Vân

 

Quảng Cáo - Advertising

LeBa Ethnic Media

 

Tel: (03) 9521 3366

Fax: (03) 9521 3436

 

Thùy Dzung

Tel: (02) 9785 8431

Mob: 0415 260 060

 

ĐẠI DIỆN CÁC TIỂU BANG:

VICTORIA

Trần Đ́nh Song

Tel: (03) 9327 7571

Fax: (02) 9827 7571

Mob: 0423 081 289

 

SOUTH AUSTRALIA

Hồ văn Tuấn

Tel: (08) 8345 2007

free counters

SGT số 672

Vấn đề Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức NSW

Hoàng Tuấn - Sàig̣n Times


Những mâu thuẫn trong Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức NSW kéo dài suốt nhiều tháng qua, một phần là do một số thành viên trong Hội gây ra; phần khác quan trọng hơn, là do thái độ thờ ơ thụ động, cũng như sự thiếu sót của một số nhân vật lănh đạo trong cộng đồng hoặc/và trong Hội CQN gây ra. Cụ thể, mới đây nhất, trong buổi Lễ Thượng Kỳ Ngày Quân Lực 19.6.2010 tại Cabra-Vale Park, BTC gồm ông Trương Công Hải, Chủ Tịch Hội CQN, ông Văn Tấn Thạch, Phó Chủ Tịch Hội, và ông Trần Nhân, Hậu duệ, đă giới thiệu ông Đào Hữu Xuân là “Hội trưởng Hội Cựu SVSQ /TBTĐ/NSW”. Lời giới thiệu này rơ ràng đă trái ngược với Quyết Định mà tập thể Cựu Quân Nhân trong Đại Hội Thường Niên 29.5.10 đă biểu quyết thông qua với tỷ lệ 23/26, và quyết định này đă được chính ông Trương Công Hải gửi cho các cơ quan truyền thông, trong đó ghi rơ (nguyên văn): "Công nhận Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức NSW do Ch/h Phạm Quang Ngọc là Hội trưởng là Hội Thủ Đức chính thức sinh hoạt với Hội CQN/NSW và các GĐQĐ tại NSW". Ông Trương Công Hải là một vị lănh đạo Hội CQN giầu tâm huyết, có lập trường minh bạch và sát cánh với cộng đồng trong sinh hoạt cũng như trong đấu tranh. V́ vậy chúng tôi rất ngạc nhiên trước những ǵ đă xảy ra dưới quyền lănh đạo của ông. Riêng ông Trần Nhân, tuy mang danh "Hậu duệ", nhưng kiến thức, kinh nghiệm làm việc của ông đều không kém ǵ các bậc cha anh trong cộng đồng. Hơn nữa, trong cương vị một vị dân cử, đồng thời là người hiểu rất rơ những mâu thuẫn trong Hội Cựu Sinh Viên Sĩ Quan Trừ Bị Thủ Đức NSW suốt thời gian qua, chắc chắn ông Trần Nhân cũng phải chịu một phần trách nhiệm quan trọng trong việc làm sai trái này.
Trước việc làm sai trái của BCH Hội CQN, ngày Thứ Ba 22/6, ông Phạm Quang Ngọc, Hội Trưởng Hội Thủ Đức có gửi Thư Phản Đối Hội CQN - NSW cho các cơ quan truyền thông, trong đó có Sàig̣n Times. Tuy nhiên, v́ sau số này, báo Sàig̣n Times chuyển từ Tuần báo thành Nguyệt san, nên chúng tôi tŕnh bầy ngắn gọn những suy nghĩ của ḿnh, thay v́ đăng Thư Phản Đối. Chúng tôi kính mong ông Phạm Quang Ngọc cùng quư Hội thông cảm; và hy vọng những suy nghĩ trên đây của chúng tôi được ông Trương Công Hải, ông Trần Nhân và BCH Hội CQN/NSW chia sẻ và đóng góp ư kiến. - Trân trọng, Hoàng Tuấn

*

Vấn đề trường Việt ngữ Hùng Vương

Hoàng Tuấn - Sàig̣n Times

Sau khi đăng Bạch Thư của BCHCĐ Tây Úc, SGT đă nhận được nhiều phản hồi từ độc giả, trong đó có Hoa Vô Ưu, Minh Hải, Sáu Khoẻ, Quỳnh Chi, Minh Hoan, Vũ Thị Lan. Ngoài ra, SGT cũng nhận được bài viết chi tiết của ông Phạm Phước Hải, Hiệu Trưởng trường Việt Ngữ Hùng Vương; và bài viết khách quan vô tư, đầy thiện chí xây dựng của ông Lê Văn Thắng, một trong những thành viên thành lập Hội Người Việt Tự Do tại Tây Úc. Nhận thấy vấn đề trường VNHV Tây Úc rất phức tạp, đóng góp của độc giả đa dạng, trong đó có những vị dùng bút hiệu, không cho biết rơ tên thật, địa chỉ, số điện thoại, nên SGT rất khó phối kiểm, lượng giá những tin tức được đề cập trong bài viết. Do đó, trong số báo tuần này, chúng tôi chỉ đăng bài viết của ông Phạm Phước Hải và ông Lê Văn Thắng. Tương lai, khi tạp chí Sàig̣n Times ra mắt độc giả vào cuối tháng 7, chúng tôi sẽ có bài phỏng vấn những vị liên hệ, để làm sáng tỏ vấn đề. SGT chân thành cảm ơn ông Phạm Phước Hải và ông Lê Văn Thắng; và sau đây, xin trân trọng giới thiệu cùng quư độc giả bài viết của hai ông.

*

Trả lời Bạch Thư của Ban Chấp Hành Cộng Đồng / Tây Úc

Phạm Phước Hải - Perth WA


Tôi xin tŕnh bày một vài nét chính để đáp lại Bạch Thư của Ban Chấp Hành Cộng Đồng / Tây Úc (BCHCĐ/TU) như sau:
1. Tôi là một nhà giáo. Tôi luôn dạy học tṛ tôi, nếu có một em nào đánh em th́ em lại thưa vớI thầy cô để thầy cô phân xử. Các em không được đánh nhau. V́ khi đánh nhau sẽ gây dau đớn và thương tật. Lúc đó thầy cô khó phân xử và có thể phạt cả hai em. Do đó tôi chọn im lặng khi bị BCHCĐ/TU tấn công và mắng chửi. Tôi đang kiếm pháp luật để nhờ phân xử đúng như những ǵ tôi đă dạy cho học tṛ của tôi.
2. Tôi là nhân viên sở Thuế. Tôi được huấn luyện giữ sổ sách cẩn thận và khi kiểm tra ai th́ phải sử dụng đúng pháp luật. Nếu không sử dụng đúng pháp luật thi có thể bị thưa ngược lại.
Tuy nhiên do SGT đă cho đăng Bạch Thư của BCHCĐ, trong đó có quá nhiều sự sai trái cho nên tôi xin minh bạch một vài điểm quan trọng trong Bạch Thư. Rất nhiều diểm sai trái c̣n lại trong Bạch Thư, tôi sẽ viết sau:

Vấn đề bổ nhiệm Hiệu Trưởng:
§ Trong Nội Quy (NQ) cũ của Cộng Đồng (có trước ngày 13/12/09) đă không có một chữ nói về trường Việt Ngữ (VN), th́ làm ǵ có sự bổ nhiệm này. Xin BCHCĐ đọc lại bản Nội Quy cho thật kỹ trước khi viết Bạch Thư.
§ Các BCHCĐ trước đều không muốn đứng ra gánh vác trường VN v́ trách nhiệm nặng nề và phiền phức, th́ làm sao dám bổ nhiệm. Nên các BCHCĐ đều bỏ mặc truờng tự bương chải lấy. Các ông trong BCHCĐ nên thành thật khi viết Bạch Thư.
§ Cộng Đồng có một văn bản bổ nhiệm nào lưu lại không?
§ Ban CHCĐ chưa từng có hỗ trợ và quan tâm đến nhà trường th́ lấy đâu mà bổ nhiệm Hiệu Trưởng.
§ Trường Việt Ngữ có tên là trường Việt Ngữ Hùng Vương chỉ có từ đầu thập niên 1990, lại thêm một điểm sai của Bạch Thư.
§ Tôi chính thức dạy tại trường Việt Ngữ từ năm 1983 chứ không phải làm HT từ năm 1983. Đến năm 1984 ông Hiệu Trưởng đầu tiên của trường rời trường và giao lại nhiệm vụ cho tôi. Một điểm sai khác của Bạch Thư.
§ Trong suốt 27 năm qua tôi đă mời nhiều người làm thay tôi nhưng không ai dám nhận, th́ thử hỏi BCHCĐ bổ nhiệm tôi lúc nào? Biết bao nhiêu người sợ trách nhiệm, bỏ mặc cho tôi xoay sở. Không biết ban soạn thảo Bạch Thư có ghi nhận được điểm này để bạch hóa không?

Vấn đề tài báo cáo tài chánh:
• Nhà trường nhận tài chánh của bộ Giáo Dục (GD) do đó hàng năm tôi báo cáo tài chánh cho bộ GD rơ ràng và đầy đủ. Nếu tôi báo cáo sai th́ bộ GD đă không cấp tài chánh hằng năm như vậy. Tại sao BCHCĐ ngang nhiên kết tội tôi sợ báo cáo tài chánh cho BCHCĐ! Chúng ta đang sống trong đất nước có pháp luật thi khi kết tội ai cũng phải sử dụng đúng pháp luật. Nội Quy của CĐ không có tính cách pháp lư này! Xin hỏi BCHCĐ đă dùng luật nào?
• Tôi nhận tiền của PHHS th́ tôi báo cáo cho hội PHHS theo đúng yêu cầu của hội.
• Nhà trường không nhận tài chánh của BCHCĐ nên chúng tôi không báo cáo tài chánh cho BCHCĐ.
• BCHCĐ không có quyền hạn ǵ bắt buộc tôi báo cáo tài chánh trong tháng 3 trong khi bản Nội Quy (có từ ngày 13/12/10) quy định báo cáo tài chánh cuối tài khóa tức là cuối tháng 6. Như vậy ban CHCĐ lập ra Nội Quy nhưng lại vi phạm Nội Quy một cách nghiêm trọng.
• Tôi dựa theo báo cáo của bộ Giáo Dục để báo cáo cho BCHCĐ. BCHCĐ nói là không đầy đủ nhưng BCHCĐ không đưa ra một mẫu báo cáo tài chánh nào để tôi báo cáo theo. Như vậy chính BCHCĐ cũng không biết phải báo cáo tài chánh như thế nào! Và báo cáo không đầy đủ ở chỗ nào! Nếu không biết th́ không được kết tội người khác.
• Tôi xin thưa rằng khi sở Thuế cần biết thêm chi tiết của một báo cáo tài chánh, th́ sở Thuế phải viết thư nêu rơ những chi tiết nào cần phải báo cáo chứ không phải như BCHCĐ nói báo cáo thiếu nhưng không biết thiếu chỗ nào! Sở Thuế cũng không có quyền buộc tôi một người khi chưa có đủ chi tiết, th́ làm sao BCHCĐ làm được như vậy! Kết tội như vậy là sái pháp luật. BCHCĐ đă dựa vào điều luật nào? Dựa vào luật thuế th́ trật. Dự vào Nội Quy của CĐ th́ trật luôn.
• Từ việc BCHCĐ không biết phải báo cáo như thế nào! Đă đưa đến cách chức tôi trong ṿng 48 tiếng. BCHCĐ đă dựa và điều luật nào để cách chức tôi? Chính việc làm trái pháp lư của quư vị đă dẫn đến bà Chủ Tịch CĐ Trần Văn Tuyền phải từ chức để phản đối hành vi của BCHCĐ/TU.

Vấn đề dạy Việt Sử:
• BCHCĐ không bao giờ đến trường ngoại trừ ngày Phát Thưởng cuối năm nên thực sự không biết tŕnh độ học sinh của trường Việt Ngữ Hùng Vương (VNHV) như thế nào! Quư vị có biết rằng các em lớp một trường VNHV chưa biết được mặt chữ th́ lấy đâu mà dạy Việt Sử. Các em lớp 2 và 3 c̣n học đánh vần th́ làm sao học Việt Sử cho được. Với 3 tiếng đồng hồ các em chỉ có đủ thời gian để học chữ và văn hóa.
• Nguyên bộ sử của ban soạn thảo Việt Sử được gửi đi 4 trường Việt Ngữ khác ở Tây Úc đều không được các trường dạy. Điều này chứng tỏ chương tŕnh Việt Sử có phù hợp hay không?
• Tôi có đề nghị cô Trần Mỹ Điệp nên cho in lại bộ Việt Sử, do quư vị, soạn bằng chữ to hơn để cho các em đọc cho dễ. V́ dấu hỏi ngă không rơ sẽ làm cho các em học khó khăn và sinh ra chán nản. Bài học tạo cho học sinh chán nản và học khó khăn là trái nguyên tắc sư phạm.
• Tôi được đào tạo trong ngành Sư Phạm là nếu không đúng nguyên tắc sư phạm và tŕnh độ học sinh th́ không thể nào dạy được. Tôi không chống dạy Việt Sử. BCHCĐ đừng chụp mũ tôi là gạt bỏ và không cho dạy Việt Sử.
• Được biết Bạch Thư nói bộ Sử được soạn thảo để phù hợp để giảng dạy cho học sinh từ lớp 1 trở lên. Không biết quư ông soạn Bạch Thư có đọc bộ Sử không mà nói được như vậy?

Vấn đề sử dụng trường:
• Cơ sở trường VNHV là do nhà trường mướn chứ không phải do BCHCĐ mướn, do đó bà Hiệu Trrưởng trường Highgate Cristina đă đưa ch́a khoá cho tôi chứ không đưa cho BCHCĐ như quư ông soạn Bạch Thu đă viết. Xin đừng bóp méo sự thật.
• BCHCĐ đến trường có báo chúng tôi biết đâu mà viết là chúng tôi vận động một số người không là PHHS làm sức ép. Vô lư quá. Xin dẫn chứng ai không là PHHS? BCHCĐ không rảnh đến thăm trường th́ làm ǵ có người rảnh để đến ủng hộ chúng tôi khi không được biết BCHCĐ đến? Xin Bạch Thư nên thành thật.
Kính
Phạm Phước Hải

*

Trường Việt Ngữ Hùng Vương Tại Tây Úc

Lê Văn Thắng


Một ngày tháng 12/2009, tôi được Ban Tổ Chức trường Việt Ngữ Hùng Vương mời tham dự Lễ Phát Thưởng cuối năm học 2009. Ban Chấp Hành CĐNVTD/TU cũng được mời như tất cả các Hội Đoàn khác. Phần tổ chức do các thầy cô và Ban Giám Hiệu của trường cùng một số phụ huynh học sinh phụ trách.
Cũng trong ngày này, ông Phạm Phước Hải, Hiệu Trưởng trường Việt Ngữ Hùng Vương đă tâm sự với tôi rằng chính bài viết của tôi đă làm ông lên tinh thần và đeo đuổi công tác tự nguyện này hơn hai chục năm qua.
Tôi hỏi: “Bài viết nào?"
Ông trả lời: “Bài nói về chúng tôi là những chiến sĩ vô danh, âm thầm hy sinh trên mặt trận văn hóa”.
Tôi sực nhớ ra, mười mấy năm trước, tôi có viết một bài ca tụng sự hy sinh to tát nhưng âm thầm của những giáo viên và Ban Giám Hiệu của trường Việt Ngữ Tây Úc, đăng trên Đặc san của CĐNVTD/TU. Họ hy sinh âm thầm v́ ngôn ngữ và Văn Hóa Việt, v́ “tiếng nước tôi” cho dù ít ai ngó ngàng tới trong suốt thời gian hoạt động của trường.
Ông nói thêm: “ bài viết của anh làm tôi xúc động nên tôi phải đeo đuổi sứ mạng của ḿnh”.
Ông Đặng Vũ Thuật cũng tâm sự:
“Tôi thấy những khó khăn mà PPH gánh chịu, khiến Hải chán chường muốn bỏ, đẩy cho Mới, nhưng Mới không dám nhận và cố giữ Hải lại”.
“Tôi cũng đă từng giúp Hải đi t́m Giáo Viên giảng dạy, trong đó có cả bạn bè tôi, nhưng Hải năn nỉ hết nước, nhiều khi vẫn thiếu giáo viên.
Tôi điện thoại cho ông Quách Văn Mới, người đă hoạt động hơn 20 năm trong CĐNVTD/TU, nhất là trong lănh vực phát thanh và giáo dục. Khi được hỏi về quan hệ giữa các BCH/CĐNVTD/TU và trường Việt Ngữ Hùng Vương trong thời gian phục vụ tại Trường Việt Ngữ Hùng Vương, ông nói vắn tắt: “Nhà ai nấy ở”. Khi được hỏi về cách điều hành trong trường, ông cho hay: “Hàng tuần, mỗi lần học tṛ ra chơi, giáo viên được họp lại để phân tích t́nh h́nh giảng dạy và những vấn đề nội bộ của trường Việt Ngữ”.
Suốt 28 năm qua, trường Việt Ngữ Hùng Vương đă hoạt động độc lập, từ việc điều hành giáo viên, các chương tŕnh giảng dạy, tự gây quỹ hoạt động song song với tài trợ của Bộ Giáo Dục mà hằng năm Ban Giám Hiệu trường Việt Ngữ có trách nhiệm báo cáo tài chánh về Bộ. Ngoài ra, trường c̣n nhận một ít hổ trợ tài chánh và tinh thần từ phụ huynh học sinh mà thôi.
Trong một email, ông Phạm Phước Hải viết: “Trong suốt thời gian 27 năm tôi dạy học tôi chưa nhận được sự quan tâm của CĐ đến nhà trường chứ đừng nói đến hỗ trợ nhà trường. Ngoại trừ bài báo của anh mà tôi nhớ măi. Nó đă làm tôi lên tinh thần mặc dầu phải vất vả với nhà trường. Nó cũng làm cho tôi nhận thấy ít nhất cũng có một người ở ngoài nhà trường đang quan tâm đến trường”.

SỰ THÀNH LẬP TRƯỜNG VIỆT NGỮ

Trường Việt Ngữ Hùng Vương đưọc Ban Chấp Hành CĐNVTD Tây Úc vận động thành lập cuối năm 1982, dưới thời ông Mai Xuân Thành làm Chủ Tịch với sự tiếp tay của ông Đặng Vũ Thuật, nguyên Tổng Thư Kư BCH/CĐ.
Trong bài báo cáo mang tiêu đề “Tổng kết sinh hoạt CĐNVTD/TU trong hai năm qua” đăng trên Đặc san Xuân Quư Hợi 1983 của CĐNVTD/TU do ông Đặng Vũ Thuật viết, có đoạn như sau: “Về giáo dục, hội đă tổ chức được 4 lớp Việt ngữ cho thiếu nhi với ban giảng huấn trên 20 thầy cô và thâu nhận trên 100 em học sinh”.
Cũng trong Đặc san này, bài tham luận mang tiêu đề: “Định Hướng cho Trung tâm Việt Ngữ” của ông Trần Kim Thập có đoạn: “Đối với CĐNVTD/TU, hơn năm tháng qua, công việc vận động và h́nh thành một trung tâm Việt ngữ cho cộng đồng chúng ta tuy chỉ mới khởi đầu và c̣n nhiều thiếu sót, nhưng thật vô cùng khích lệ”.
Viết về trợ cấp, bài viết xác nhận: “Chúng tôi xin thưa rằng, từ trước đến nay, trung tâm vẫn chưa nhận được một khoản tài chánh nào từ bên ngoài. Một số quỹ rất nhỏ mà trong trung tâm hiện có là do sự đóng góp tự nguyện của một số anh chị em giáo chức. Anh chị em giáo chức tham gia vào trung tâm đều do ḷng thiện chí, yêu nghề, yêu trẻ chứ chưa hề nhận được một trợ cấp nào”.
Về vai tṛ CĐ, Ông Trần Kim Thập cũng đề nghị: “Ban Chấp Hành CĐ chịu trách nhiệm điều hành trung tâm: Trung tâm Việt ngữ được tổ chức nhằm mục tiêu thiêng liêng là bảo tồn tiếng Mẹ. Trung tâm phục vụ cho cả cộng đồng. V́ vậy, việc hổ trợ cho trung tâm là một trong những nhiệm vụ của bất kỳ BCH nào cũng phải theo đuổi. Người chịu trách nhiệm trực tiếp điều hành trung tâm là Ủy viên Giáo Dục của CĐ”.
Khi lục lại danh sách BCH/ CĐNVTD/TU nhiệm kỳ 1982-1983, ông Phạm Quang Huyến là Ủy Viên Giáo Dục.
Tuy nhiên, khi tiếp xúc với ông Đặng Vũ Thuật, ông cho biết ông Phạm Quang Huyến được mời đứng tên thành lập trường Việt ngữ, xin phép Bộ Di Trú và xin tài trợ nhưng trên thực tế, ông Huyến không điều hành trung tâm Việt ngữ. Người Hiệu trưởng đầu tiên là ông Lê Công Luận. Năm 1984, Ông Luận đi Canberra và ông Phạm Phước Hải làm Hiệu trưởng cho đến ngày nay. Ông Thuật cũng cho biết thêm rằng tuy BCH/CĐNVTD/TU đứng ra vận động và xin tài trợ nhưng kể từ đó, trường Việt Ngữ vẫn hoạt động độc lập. Ông cũng nói thêm rằng không một BCH nào chịu đứng ra gánh vác một trách nhiệm nặng nề và phiền phức. Các BCH/CĐ cũng không có th́ giờ và nhân sự làm việc này.
Những năm đầu, người ta chỉ biết là trường Việt Ngữ. Cho đến giữa thập niên 1990, trường mới có danh xưng là Trường Việt Ngữ Hùng Vương do Ban Giám Hiệu và Giáo viên của trường đặt tên.
Tôi lại tiếp xúc với ông Nguyễn Văn Phát, nguyên Chủ Tịch CĐNVTD/TU suốt ba nhiệm kỳ: 1990-1992, 1992-1994 và 1994-1996. Ông Phát cho biết: “Để tạo sức mạnh cho CĐ, Trường Việt Ngữ Hùng Vương là một bộ phận của CĐ. Hiệu Trưởng trường Việt Ngữ Hùng Vương là Ủy Viên Giáo Dục của CĐ”.
Ông Phạm Phước Hải nói: “Trường Việt ngữ c̣n giúp CĐ bằng cách trích ngân khoản tài trợ để mua máy photocopier cho CĐ sử dụng và trường chịu luôn cả chi phí bảo tŕ”.

TRƯỜNG VIỆT NGỮ VÀ NỘI QUY CĐNVTD/TU

Nội Quy nguyên thủy của CĐNVTD/TU là Nội Quy của Hội Ái Hữu Việt Kiều Tự Do Tây Úc (tiền thân của CĐNVTD/TU) được soạn thảo vào tháng 8/1978. V́ lúc ấy chưa có trường Việt Ngữ nên không một điều khoản nào trong Nội Quy nói về Trường Việt Ngữ hay Ủy Viên Giáo Dục. Nội Quy này được áp dụng cho tới tháng 12/2009. Ủy Viên Giáo Dục được đề cập trong thành phần một số BCH/CĐNVTD/TU là làm theo nhu cầu chứ không trên tinh thần Mục 3, Điều 12 Nội Quy về Thành Phần Ban Chấp Hành.
Khi c̣n sinh tiền, bà Thể Vân Fitzgerald, nguyên Chủ Tịch CĐNVTD/TU nhiệm kỳ 1996-1998, đă có tu chính không chính thức Nội Quy CĐ. Gọi là “không chính thức” v́ bản tu chính Nội Quy chưa được thông qua Đại Hội Đồng và chưa được cập nhật tại Fair Trading.
Tháng 12/2009, BCH CĐNVTD/TU thông qua Nội Quy được tu chính toàn bộ với các điều khoản bó buộc trường Việt ngữ phải đặt trong sự kiểm soát của CĐ như sau:
Điều 55: Trường Việt Ngữ Cộng Đồng (TVNCĐ)
1. Trường Việt Ngữ Cộng Đồng hiện có tên gọi là Trường Việt Ngữ Hùng Vương (known as Vietnamese Ethnic School in Western Australia), là một cơ quan giáo dục của Cộng Đồng Người Việt Tự Do Úc Châu / Tây Úc, được điều hành bởi một Ban Giám Hiệu do Ban Chấp Hành Cộng Đồng đề cử hoặc chấp thuận.
a) Hiệu trưởng Trường Việt Ngữ Hùng Vương phải là một thành viên của BCHCĐ, đặc trách văn hoá giáo dục.
b) Ban Giám Hiệu phải bao gồm đầy đủ Hiệu trưởng, Hiệu Phó và Thủ quỹ. BCHCĐ không chấp nhận v́ bất cứ lư do ǵ mà khiếm khuyết 1 trong 3 chức vụ trên.
2. Ban Giám Hiệu có ba trách nhiệm chính:
a) Thi hành các Điều Lệ của Trường Việt Ngữ Cộng Đồng do BCHCĐ đề ra (Bản Điều Lệ này được đính kèm như Phụ Bản số 1 của Bản Nội Quy);
b) Điều hành thuê mướn cơ sở và cung ứng phương tiện giảng dạy cho trường;
c) Ban Giám Hiệu có quyền sử dụng tài chánh và có nhiệm vụ tường tŕnh chi tiêu hàng năm đến BCHCĐ, bằng văn bản, với đầy đủ chữ kư của 3 chức vụ của BGH. Báo cáo nầy phải được thực hiện trước khi chấm dứt năm tài chánh (end of Finacial Year).
3. Hiệu Trưởng và Hiệu Phó có hai trách nhiệm chính:
a) Đại diện BCHCĐ và BGH trực tiếp điều hành công việc giảng dạy, bao gồm thầy cô và phương tiện giảng dạy;
b) Chịu trách nhiệm về tổ chức các mặt sinh hoạt văn hóa của trường Việt ngữ.
4. BCHCĐ có hai trách nhiệm chính:
a) BCH chịu trách nhiệm đề cử hoặc chấp thuận Ban Giám Hiệu;
b) BCH cùng với BGH trực tiếp chịu trách nhiệm xin thêm ngân khoản trợ cấp từ Chính Phủ Tiểu Bang và Liên Bang, dựa trên báo cáo hàng năm của Trường Việt Ngữ Hùng Vương. Tất cả ngân khoản trợ cấp này sẽ được dùng trong việc chi tiêu hàng năm cho Trường Việt Ngữ Hùng Vương. Hiệu Trưởng Trường Việt Ngữ Hùng Vương, Chủ tịch CĐ và Thủ Quỷ CĐ sẽ trực tiếp kư vào đơn xin ngân khoản trợ cấp từ Chính Phủ Tiểu Bang và Liên Bang.
Ông Phạm Phước Hải cũng đă xác định trong lá thư viết cho BCH/CĐ như sau:
“a. Trong bản NQ cũ đă không có điều khoản nào về Trường Việt Ngữ. b. Bản NQ mới được kư và có hiệu lực từ ngày 13/12/2009, do đó tôi sẽ báo cáo tài chánh cho BCH/CĐ sau ngày chấm dứt tài khóa 2009-2010 bằng văn bản như đă quy định. c. Tôi là người trực tiếp nhận ngân sách từ Bộ Giáo Dục, do đó hàng năm, tôi đă có báo cáo tài chánh đầy đủ và rơ ràng cho Bộ”.

KẾT LUẬN

Với thiển ư cá nhân, tôi có vài nhận xét sau đây:
1. Ngay từ đầu, Trường Việt Ngữ tại Tây Úc do BCH/CĐNVTD/TU vận động thành lập th́ việc quan tâm đến sinh hoạt của trường Việt Ngữ là điều chính đáng.
2. Việc quan tâm đến trường Việt Ngữ nên v́ tương lai tiếng Việt và Văn hóa Việt tại xứ người chứ không nên v́ quan điểm cá nhân hay phe nhóm.
3. Trường Việt Ngữ nên được điều hành độc lập nhưng nằm trong hệ thống CĐ để tránh những xáo trộn xảy ra khi có sự thay đổi BCH/CĐ.
4. CĐ nên thực hiện sự quan tâm qua việc ủng hộ tinh thần và giúp vận động giáo viên cho trường Việt Ngữ.
5. Không phải góp ư nào cũng bắt buộc Ban Giám Hiệu trường Việt Ngữ thi hành mà tùy theo t́nh h́nh và điều kiện mà họ sẽ không hoặc áp dụng một phần hay toàn thể ư kiến đóng góp.
6. Nếu muốn dùng đến quyền lực để loại bỏ một người có công lao và thiện chí với một thời gian dài hoạt động th́ liệu có người thiện chí nào c̣n dám nhận lănh những trách nhiệm khó khăn của CĐ trong tương lai.
7. Nghị quyết 36 của VC là một cái bẫy, nếu chúng ta bất đồng và bốc đồng th́ chính chúng ta bị lái vào cái bẫy đó và tự làm suy yếu cộng đồng.
Lê Văn Thắng: - Một trong những thành viên thành lập Hội Người Việt Tự Do tại Tây Úc (1/1978) - Nguyên Chủ Tịch Nhóm Thiện Chí (3/1978) - Một trong những thành viên vận động thành lập Hội Ái Hữu Việt Kiều Tự Do Tây Úc (6/1978) - Nguyên Trưởng Ban Thông Tin Văn Hóa của Hội, đặc trách điều hành Chương tŕnh phát thanh Việt Ngữ đầu tiên tại Tây Úc (9/1978) - Nguyên Trưởng Ban Tài Chánh (1981-1982) - Một trong những thành viên soạn thảo Nội Quy Hội (8/1978) và bản Dự thảo Nội Quy mới (2009).