|
Người Ghé Thăm

SAIGON
TIMES PTY
ABN 71 088
414 b457
175 William
St,
Bankstown
NSW 2200
PO BOX 409
Bankstown
NSW 2200
Tel: (02)
9785 8431
Fax: (02)
9790 3557
Email:
saigon@bigpond.net.au
Chủ Bút -
Editor
Hữu Nguyên
Mob: 0438 699
150
Phụ Tá Chủ
Bút - Assistant Editor
Phạm Thanh
Phương
Mob: 0411 638
770
Cố Vấn Luật
Pháp- Legal Advisor
Luật Sư Lê
Đ́nh Hồ
(LeDinh
Lawyers)
Tel: (02) 9708
6629
Mob: 0413 166
152
Ban Biên
Tập
Phạm Thanh
Phương
Lê Đ́nh Hồ
Hoàng Tuấn
Thùy Dzung,
Hữu Nguyên
Cộng Tác
Trường
Sơn Lê Xuân Nhị
Sầu Đông, Trần
Ngân Tiêu
Mơ Sàig̣n, Vũ
Hồ, Quốc Hải
Con Hưu, Phạm
thái Lai
Doăn B́nh, Bội
Diệp, Lê Phụng
Lẩn Thẩn Hậu
Sinh, Ái Vân
Quảng Cáo -
Advertising
LeBa Ethnic
Media
Tel: (03) 9521
3366
Fax: (03) 9521
3436
Thùy Dzung
Tel: (02) 9785
8431
Mob: 0415 260
060
ĐẠI DIỆN
CÁC TIỂU BANG:
VICTORIA
Trần Đ́nh Song
Tel: (03) 9327
7571
Fax: (02) 9827
7571
Mob: 0423 081
289
SOUTH
AUSTRALIA
Hồ văn Tuấn
Tel: (08) 8345
2007
|
Hữu Nguyên
Tôi là Nguyễn Hữu Chí, sinh ra và lớn lên ở Miền Bắc, từng có hơn một năm
phải đội nón cối, đi dép râu, theo đội quân Việt Cộng xâm lăng Miền Nam. Trong
những năm trước đây, khi cuộc đấu tranh bảo vệ chính nghĩa của cộng đồng người
Việt tỵ nạn cộng sản tại Úc c̣n minh bạch, lằn ranh quốc cộng c̣n rơ ràng, tôi
hoàn toàn tin tưởng và sẵn sàng đối phó với mọi âm mưu, thế lực của cộng sản.
Nhưng gần đây, có những dấu hiệu rơ ràng chứng tỏ, những thế lực ch́m nổi của
cộng sản tại Úc đang t́m cách xóa bỏ lằn ranh quốc cộng, đồng thời thực hiện âm
mưu làm suy yếu sức mạnh đấu tranh của người Việt hải ngoại. Trong hoàn cảnh đấu
tranh ngày càng khó khăn đó, tôi thấy ḿnh chỉ có thể đi tiếp con đường ḿnh đă
chọn khi được quư độc giả hiểu và tin tưởng. V́ vậy, tôi viết hồi kư này, kể lại
một cách trung thực cuộc đời đầy đau khổ, uất ức và ân hận của tôi khi sống
trong chế độ cộng sản, cũng như những nguy hiểm, may mắn khi tôi t́m tự do....
Trong hoàn cảnh vô cùng khó khăn trên nhiều phương diện, lại phải vừa duy tŕ tờ
báo, vừa tham gia các sinh hoạt cộng đồng, vừa t́m cách "mưu sinh, thoát hiểm"
giữa hàng chục "lằn tên đường đạn", nên hồi kư này có rất nhiều thiếu sót. Kính
mong quư độc giả thông cảm bỏ qua, hoặc đóng góp nếu có thể.
*
(Tiếp theo...)
Thành phố Hồng Kông hiện ra ngày càng lớn và rơ, với tất cả vẻ sầm uất nhộn nhịp,
khiến tất cả mọi người trên thuyền đều háo hức, nôn nao, xôn xao ầm ĩ, không bút
nào tả xiết. Chúng tôi vui mừng và ngạc nhiên khi thấy tàu bè ra vô hải cảng
Hồng Kông liên tục. Trên bầu trời th́ phi cơ đủ loại của các hăng hàng không cất
cánh và hạ cánh liên tục.
Khi chúng tôi thấy xe cộ chạy qua lại như mắc cửi trên đường phố Hồng Kông th́
cũng là lúc thuyền của chúng tôi được hướng dẫn chạy vô một khu có đông đúc
thuyền bè đủ loại của người tỵ nạn Việt Nam. Tôi ước lượng ở đó phải có khoảng
200 tới 300 chiếc thuyền. Xa xa trên mặt biển, về phía bên tay phải là một chiếc
tàu sắt khổng lồ nằm nghiêng hẳn về một bên. Sau này tôi mới biết đó là tàu
Thiên Vận (Skyluck), chuyên chở mấy ngàn người Việt tỵ nạn. Khi tàu cập bến Hồng
Kông vào đầu tháng 2 năm 1979 th́ bị từ chối, nên những người trên tàu đă đục
tàu cho nước vô. Kết quả, chính quyền Hồng Kông bắt buộc phải để cho mọi người
lên bờ, và cứu xét tư cách tỵ nạn. Nghe đâu tầu này đă rời Việt Nam vào ngày 24
tháng 1 năm 1979, trên đường đi tàu đă chuyển vàng sang tàu United Faith ngoài
hải phận quốc tế trước khi nhập cảng Hồng Kông. Ngoài tàu Thiên Vận, chúng tôi
c̣n thấy nhiều tàu sắt khác chở người tỵ nạn cũng nằm lác đác trên mặt biển,
hoặc trên băi cát. Riêng một chiếc tàu sắt loại trung b́nh th́ vẫn buông neo ở
biển, trên thuyền vẫn có đông đảo khoảng vài trăm người Việt. Phần đông những
người này trông có vẻ trí thức, ăn mặc sang trọng, sống cách biệt với những
người tỵ nạn ra đi từ các làng chài lưới ở Miền Bắc. Sau này tôi mới biết đó là
chiếc tàu sắt chở người vượt biên đi từ Hà Nội, Hải Pḥng.
Sau khi thuyền của chúng tôi thả neo xong, một chiếc ca nô chở một toán khoảng
10 cảnh sát Hồng Kông sắc phục chỉnh tề, súng ống gọn gàng, lên thuyền chúng tôi
khám xét. Nh́n cảnh sát Hồng Kông chúng tôi phải công nhận họ ăn mặc rất đẹp,
làm việc rất chuyên cần, cẩn thận và lịch sự nhưng rất kiên quyết. Sau một hồi
lục lọi, kiểm tra tỷ mỉ, cuối cùng, cảnh sát Hồng Kông chỉ thu được có vài con
dao nhỏ mũi nhọn, một chiếc giáo bằng tre đầu vót nhọn, và gần chục quả đấm sắt.
Những quả đấm sắt này là loại vũ khí tự vệ được thanh niên Miền Bắc, nhất là ở
Hải Pḥng, Hà Nội hay sử dụng.
Khám xét xong, toán cảnh sát Hồng Kông yêu cầu thuyền chúng tôi cử ra ba người
lên trên bờ làm việc. Lập tức ông Đường chủ thuyền cùng với anh Thu, người biết
tiếng Anh, Pháp, có tŕnh độ nhất trên thuyền, và anh Thịnh, một người rất tháo
vát và biết chút ít tiếng Anh, đi theo toán cảnh sát xuống ca nô.
Khoảng 1 tiếng đồng hồ sau, ba người trở lại thuyền, và một cuộc họp quy tụ tất
cả mọi người trên thuyền được tổ chức để nghe anh Thu tŕnh bầy bằng tiếng Việt
và ông Đường dịch lại bằng tiếng Hoa. Mọi người ai cũng hí hửng và nôn nóng chờ
đợi...
Mở đầu, anh Thu nói:
- Thưa quư ông bà, anh chị em. Ba anh em chúng tôi đại diện mọi người trên
thuyền lên gặp chính quyền Hồng Kông th́ họ cho biết, giống như tất cả những
thuyền chở người tỵ nạn Việt Nam nhập cảnh Hồng Kông, thuyền của chúng ta cũng
bị họ coi là nhập cảnh trái phép. V́ vậy, chúng ta có thể bị trục xuất khỏi lănh
thổ Hồng Kông, nếu chúng ta không được Liên Hiệp Quốc công nhận tư cách tỵ nạn...
Nghe đến đó, mọi người xôn xao ḥ hét, bàn tán. Không ai nghe ai cả. Mấy lần anh
Thu dơ tay cho mọi người im lặng nhưng không được. Thấy vậy, anh Thịnh nhảy lên
chiếc thùng gỗ nhỏ, vỗ tay thiệt lớn, rồi quát lên bằng tiếng Hoa, mọi người mới
im lặng dần.
Chờ thật yên lặng, anh Thu nói tiếp:
- Tôi yêu cầu mọi người trật tự lắng nghe tôi nói xong. Sau đó ai có ư kiến ǵ
th́ dơ tay...
Một hai người dơ tay muốn nói, anh Thu xua tay:
- Chờ tôi nói xong đă, quư vị hăy dơ tay. Như tôi đă nói, Liên Hiệp Quốc sẽ cứu
xét tư cách tỵ nạn của chúng ta. Nếu được, chúng ta sẽ được lên bờ vô trại tỵ
nạn ở, chờ các quốc gia khác phỏng vấn rồi đón nhận. C̣n những ai không được
Liên Hiệp Quốc công nhận là người tỵ nạn th́ họ phải bị tống vô trại giam chờ
trục xuất. Tuy nhiên, xin mọi người đừng lo, v́ đó chỉ là thủ tục hành chánh...
Cho đến nay, hầu hết những ai đi tỵ nạn bằng thuyền khi cập bến Hồng Kông đều
được Liên Hiệp Quốc công nhận ngay tư cách tỵ nạn.
Mọi người ồ lên vỗ tay hoan hô rầm trời. Tiếng la ó, ḥ hét ầm ĩ... Chờ một lúc
lâu, mọi người yên lặng trở lại, anh Thu mới nói về những đ̣i hỏi của chính
quyền Hồng Kông và Liên Hiệp Quốc về trật tự, an ninh, kỷ luật.... Sau đó, anh
cho biết, việc đầu tiên chúng tôi phải làm là kê khai họ tên, ngày tháng năm
sanh, nơi sinh, quê quán, họ tên thân nhân và địa chỉ của thân nhân hiện đang ở
ngoại quốc, cùng lư do vượt biên tỵ nạn... Chúng tôi cũng phải bầu ra một nhóm "hỏa
thực" chuyên lo đi lấy cơm nước, thực phẩm (đường, sữa, ḿ gói, cá hộp...) và
hoa quả của nhà thầu rồi đem về thuyền chia đều cho mọi người.
Ngay trưa hôm đó, chúng tôi được ăn bữa cơm đầu tiên do "đầu bếp Hồng Kông" nấu.
Cơm trắng, ăn thoải mái. Thức ăn th́ ba món đàng hoàng, toàn với thịt gà. Món
mặn là thịt gà kho, rồi giá xào với ḷng gà, và canh bí nấu với xương gà. Ăn
xong có tráng miệng bằng trái cây, nho cam táo. Đang sống thiếu thốn ở Việt Nam
và Trung Quốc, nay được ăn như vậy, chúng tôi đều vui mừng nghĩ ḿnh thật là đế
vương. Lúc đó, chúng tôi đâu có ngờ, trong suốt thời gian sau đó, chúng tôi cứ
phải ăn hoài ba món đó. Chúng tôi ăn nhiều đến độ phát khiếp mỗi khi ngửi thấy
mùi thịt gà là rùng ḿnh, nghẹn họng, nuốt cái ǵ cũng không vô. Nhiều người
phải xin muối để ăn với cơm chứ ăn thịt gà th́ nuốt cơm không vô. Lư do khiến
chúng tôi phải ăn thịt gà, nhất là ḷng gà, v́ những thứ này là đồ phế thải
không phải trả tiền, nhà thầu lấy từ các xưởng làm thịt gà khổng lồ trên đất
Hồng Kông.
Chiều hôm đó, ăn cơm xong, chúng tôi ghi tên tuổi của ḿnh trên những tờ giấy đă
in sẵn, kẻ thành từng cột. Như tôi đă kể cùng các bạn, trong thời gian vượt ngục
và vượt biên, tôi phải dùng nhiều giấy tờ giả với tên giả khác nhau. Khi sang
đến Trung Quốc, một nước theo chế độ cộng sản, cộng với những lo ngại có gián
điệp của cộng sản Việt Nam trà trộn, nên tôi đă chọn tên Phạm Thái Lai. Nay được
đặt chân lên Hồng Kông, tôi thấy cần phải khai tên thật của ḿnh, v́ mấy lẽ. Lẽ
đầu tiên là ở Hồng Kông, vùng đất của tự do, tôi không c̣n lo sợ như ở Trung
Quốc. Điều thứ hai là một khi khai tên thật, hồ sơ bảo lănh của tôi cùng giấy tờ
căn cước trước 1975 ở Miền Nam cũng như Miền Bắc sẽ hoàn toàn ăn khớp. Thêm vào
đó, tôi nghĩ, đây là cơ hội cuối cùng cho tôi được lấy lại tên thật một cách dễ
dàng, thoải mái. Tương lai, sau khi đến được quốc gia đệ tam, nếu tôi muốn lấy
lại tên thật sẽ khó khăn, phức tạp hơn. Nhưng tôi không ngờ, việc tôi khai tên
thật lại tạo khó khăn cho tôi ngay giờ phút đầu tiên ở Hồng Kông.
Khi tôi bước đến cạnh chiếc bàn nhỏ nơi anh Thu đang ghi chép tên của mọi người
để khai tên Nguyễn Hữu Chí, mọi người đều ngạc nhiên trố mắt nh́n tôi, nhất là
ông Đường, anh Thu và anh Thịnh. Anh Thu đang ghi tên, vội bỏ kính xuống nh́n
tôi, hỏi giọng ngạc nhiên:
- Cậu tên là Phạm Thái Lai sao bây giờ khai Nguyễn Hữu Chí?
Tôi b́nh tĩnh phân bua ngắn gọn:
- Em tên thật là Nguyễn Hữu Chí. Đi vượt biên dùng giấy tờ giả nên phải ghi tên
giả là Phạm Thái Lai.
Anh Thu lắc đầu:
- Sao suốt thời gian gặp tôi ở Trung Cộng, cậu không nói? Bộ cậu không tin tụi
tôi sao?
Tôi chậm răi nói:
- Không phải em không tin các anh. Nhưng ở đó em đâu có tin Trung Cộng. Hơn nữa,
khi đó người Việt đầy rẫy, lỡ có tụi gián điệp Việt cộng trà trộn th́ sao.
- Cậu nói vậy th́ tôi tin. Nhưng cậu từ Trung Quốc đi với tên Phạm Thái Lai, bây
giờ lại khai là Nguyễn Hữu Chí th́ đâu có được. - Quay qua ông Đường, anh Thu
hỏi - Tôi nói vậy có phải không ông chủ thuyền?
Ông Đường không nh́n tôi, nhưng gật đầu:
- Dạ bác Miền Nam nói như vậy rất đúng...
Anh Thịnh cũng ngọt ngào đỡ lời:
- A Lồi nên ghi tên Phạm Thái Lai đi cho xuôi chèo mát mái cho cả thuyền. Khai
tên khác là cả thuyền bị lôi thôi. Lỡ ra là họ trục xuất tất cả về Việt Nam th́
khổ...
Tôi cương quyết nói:
- Tôi th́ tôi nghĩ khi ḿnh rời khỏi Trung Quốc, chẳng có một giấy tờ nào ghi
tên tôi là Phạm Thái Lai. Trong người tôi bây giờ cũng chẳng có giấy tờ ǵ chứng
tỏ tôi là Phạm Thái Lai. Như vậy bây giờ tôi muốn khai tên ǵ chả được...
Ông Đường lắc đầu:
- Nỉ nói vậy là không đúng đâu lớ. Tuy ḿnh không có giấy tờ ǵ nhưng trong
thuyền này ai cũng biết nỉ là Phạm Thái Lai. Bây giờ nỉ khai là Nguyễn Hữu Chí,
lỡ có người trong thuyền họ méc với chính quyền th́ có phải rắc rối cho nỉ không
nào.
Thấy mọi người đều phản đối như vậy, tôi càng cương quyết hơn:
- Tên thật của tôi là Nguyễn Hữu Chí. Tôi dùng tên giả để vượt biên. Bây giờ tôi
muốn khai lại tên thật, tại sao quư vị lại phản đối? Tôi khai tên ǵ, tôi sẽ
chịu trách nhiệm với tên đó. Ai không đồng ư với tôi, cứ việc báo cho chính
quyền họ biết.
Anh Thu nhẹ nhàng:
- Vẫn biết là cậu khai tên ǵ th́ cậu phải chịu trách nhiệm. Nhưng nếu cậu không
cân nhắc kỹ lưỡng, việc cậu làm sẽ ảnh hưởng đến cả thuyền.
Anh Thịnh cũng nói thêm vô:
- Thôi th́ bây giờ a Lồi cứ khai tên Phạm Thái Lai đi, để cả thuyền được chấp
nhận tư cách tỵ nạn đă. Sau đó, a Lồi muốn khai lại tên cũng đâu có khó.
Tôi lắc đầu:
- Tôi không thể nào khai tên giả được. Tên giả chỉ dùng trong chế độ cộng sản.
C̣n ở đây, tự do dân chủ, tại sao tôi phải tiếp tục dùng tên giả. Vả lại, quư vị
đă nghe anh Thu nói rồi đó, ngay dưới bản kê khai tên tuổi này cũng đă ghi rơ
ḍng chữ Hoa, Anh, là ai man khai sẽ bị tước bỏ tư cách tỵ nạn. Như vậy tại sao
quư vị lại cứ buộc tôi phải khai gian là thế nào.
Ông Đường và anh Thu nh́n nhau hỏi ư. Cuối cùng anh Thu đeo kính nói, giọng lạnh
lùng:
- Rồi, nếu cậu đă muốn vậy th́ tôi ghi xuống đây là Nguyễn Hữu Chí...
Tôi nói gọn:
- Cảm ơn anh.
Ông Đường xen vô:
- Nếu a Lồi đă nhất quyết như vậy th́ bác Miền Nam cứ ghi tên ǵ mà anh ấy muốn.
Nhưng chúng tôi bắt buộc phải có bổn phận tŕnh với nhà chức trách đầu đuôi nội
vụ.
Tôi suy nghĩ một thoáng rồi nói:
- Tôi không phản đối điều đó. Ông cứ việc báo cáo, làm tṛn bổn phận của ông,
rồi tôi sẽ lên gặp họ tŕnh bầy đầu đuôi. Tôi có đủ bằng chứng và giấy tờ để
chứng minh với họ tên thật của tôi.
Anh Thịnh ngạc nhiên:
- Giấy tờ của anh đâu?
- Giấy tờ của tôi hiện ở Úc. Tôi đă gửi cho thân nhân của tôi từ khi tôi c̣n ở
Việt Nam, trước khi tôi vượt biên...
Ngay chiều hôm đó, phái đoàn đại diện thuyền chúng tôi gồm anh Thu, ông Đường và
anh Thịnh lại lên bờ nộp danh sách các thuyền nhân. Tôi đoán là phái đoàn ba vị
đă báo cáo t́nh trạng tên thật tên giả của tôi. Quả nhiên, khoảng hai tiếng đồng
hồ sau, một chiếc ca nô ghé thuyền tôi và tôi được lệnh theo họ lên bờ. Tới bờ,
một người cảnh sát sắc phục nói tiếng Việt rất sơi, dắt tôi vô một căn pḥng
trong dẫy nhà tiền chế chạy dài. Trong pḥng chỉ có hai người. Một ông người
Hồng Kông mặc đồ cảnh sát, tướng tá bệ vệ, tuổi ngoài 50, ngồi sau chiếc bàn
rộng bằng gỗ đen như mun. Đằng sau là h́nh Nữ Hoàng phóng to, choán cả bức tường.
Ngồi bên tay phải của ông là một phụ nữ xinh đẹp, gương mặt tươi sáng, phúc hậu,
tuổi khoảng trên dưới 25, mặc y phục người Hoa, nói tiếng Việt rất sơi làm thông
ngôn.
Người đàn ông lịch sự mời tôi ngồi, rồi mời tôi uống nước. Sau đó, người phụ nữ
lên tiếng, giọng Miền Nam ngọt ngào, lịch sự:
- Trước hết tôi xin giới thiệu với anh Chí, đây là Trần tiên sinh, trưởng pḥng
giám cảnh, đặc trách việc kiểm soát các thuyền nhân khi nhập cảnh Hồng Kông. C̣n
tôi tên là Hoa, đảm trách việc thông ngôn ở đây. Hôm nay Trần tiên sinh mời anh
lên đây để được nghe anh giải thích lư do v́ sao anh lại đổi tên từ Phạm Thái
Lai thành Nguyễn Hữu Chí.
Chỉ tay vào chiếc máy ghi âm, cô Hoa tiếp lời:
- Để bảo đảm những lời giải thích của anh và việc dịch thuật của tôi được chính
xác, chúng tôi phải ghi âm toàn bộ buổi nói chuyện hôm nay.
Một cách ngắn gọn, tôi tŕnh bầy tên thật của tôi là ǵ, v́ sao tôi mang tên
Phạm Thái Lai, và những nguyên nhân nào khiến tôi quyết định lấy tên thật trở
lại. Trong khi tôi nói, cô Hoa vừa ghi âm, vừa ghi chép. Sau khi tôi giải thích
xong, cô quay sang phía Trần tiên sinh, rồi vừa nh́n vào trang giấy, vừa nói lại
bằng tiếng Hoa. Trần tiên sinh nghe xong, liền nói lại bằng tiếng Hoa khoảng 5
phút đồng hồ. Cô Hoa cặm cụi ghi chép, xong quay sang hỏi tôi:
- Tên Nguyễn Hữu Chí là tên cha mẹ anh đặt từ khi nào?
Tôi đáp:
- Từ khi mới đẻ. Đó cũng là tên trong giấy khai sanh của tôi.
Cô Hoa hỏi tiếp:
- Anh có giấy khai sanh đó không?
Tôi gật đầu:
- Giấy khai sanh th́ tôi không có. Nhưng tôi có bản tuyên thệ xin giấy thế v́
khai sanh và giấy thế v́ khai sanh do phường Phú Nhuận, tỉnh Gia Định cấp vào
năm 1972. Giấy đó hiện không có ở đây, nhưng tôi có thể yêu cầu người nhà gửi
tới đây trong ṿng hai tuần lễ.
Câu chuyện đến đây trở nên phức tạp, và tôi phải dài ḍng kể lại lư do v́ sao
tôi phải làm giấy tuyên thệ để xin giấy thế v́ khai sanh ở trong Nam thay v́ ở
ngoài Bắc. Rồi tôi phải giải thích tôi mang tên Phạm Thái Lai từ khi nào. Ngoài
tên Phạm Thái Lai, tôi c̣n dùng những tên giả nào khác. Thân nhân của tôi ở
ngoại quốc là những ai, ở đâu, làm ǵ, họ có biết tên thật của tôi hay không...
(C̣n tiếp...)
|